Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 260

Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hướng tới bình đẳng giới và hội nhập quốc tế, việc lồng ghép giới ở cấp Tiểu học trở nên cần thiết nhằm hình thành nhận thức và thái độ bình đẳng ngay từ bậc học nền tảng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng lồng ghép giới trong các hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích lí thuyết với khảo sát 420 học sinh và 120 giáo viên, cán bộ quản lí tại 12 trường tiểu học, sử dụng thang Likert 5 bậc, phân tích hồ sơ dạy học và quan sát hoạt động giáo dục. Kết quả cho thấy hoạt động lồng ghép giới đã góp phần thúc đẩy bình đẳng trong học tập và rèn luyện kĩ năng sống, nhưng vẫn còn hạn chế về phạm vi, chiều sâu, năng lực giáo viên và sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm xây dựng môi trường giáo dục công bằng, hòa nhập và bền vững, đồng thời đóng góp vào nâng cao năng lực giáo viên và định hướng chương trình giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh tiểu học.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 178

Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam ngày càng hội nhập và cạnh tranh, việc xây dựng và phát triển thương hiệu trường học, đặc biệt ở các trường tiểu học trở thành một yếu tố then chốt nhằm khẳng định uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu này tập trung phân tích cơ sở để đưa ra tiêu chí nhận diện, đánh giá thương hiệu giáo dục nói chung, thương hiệu trường tiểu học tại Việt Nam nói riêng. Bằng phương pháp tổng quan tài liệu, nghiên cứu chỉ ra rằng, thương hiệu trường học không chỉ bao gồm các yếu tố hữu hình mà còn bao hàm cả những yếu tố vô hình. Kết quả nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí nhận diện và đánh giá thương hiệu gồm bốn nhóm chính: 1) Nhận diện trực quan, 2) Thông điệp và giá trị, 3) Trải nghiệm thương hiệu, 4) Hình ảnh-uy tín trong cộng đồng (Reputation & Trust). Bộ tiêu chí này không chỉ cung cấp công cụ đánh giá khách quan và toàn diện hơn cho các cơ sở giáo dục tư thục mà còn là cơ sở để hoạch định chiến lược truyền thông, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 201

Nghiên cứu này là kết quả khảo sát 23 giảng viên và 261 sinh viên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch dựa trên yêu cầu đối với chương trình học phần được phát triển và điều chỉnh từ bộ công cụ của Mạng lưới Đại học ASEAN - Đảm bảo Chất lượng (AUN-QA). Trên cơ sở kết hợp xử lí dữ liệu câu hỏi mở đối với sinh viên về ưu điểm, hạn chế và mong muốn đối với học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch, bài báo đưa ra những đánh giá về thực trạng chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cử nhân các ngành Du lịch trong bối cảnh hiện nay.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 180
Nghiên cứu này trình bày chi tiết về việc thiết kế và đánh giá ban đầu ‘VisuoGeometry - Trainer’, một hệ thống luyện tập hình học trực quan thích ứng dựa trên mô hình BKT (Knowledge Tracing theo Bayesian), nhằm giải quyết những khó khăn của học sinh lớp 7 trong việc học hình học trực quan tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu ưu tiên tính sư phạm, tích hợp một ngân hàng câu hỏi, gồm các thành phần kiến thức (Ví dụ: tính thể tích hình lăng trụ, nhận diện tính chất của hình lập phương) và sai lầm phổ biến (Ví dụ: nhầm lẫn giữa diện tích xung quanh và thể tích, diễn giải sai hình biểu diễn 2D của vật thể 3D); một mô hình người học dựa trên BKT, nhằm theo dõi hiệu suất trên từng kĩ năng và một cơ chế thích ứng minh bạch, vận hành bởi mô hình BKT được thiết kế nhằm mô phỏng các quyết định của giáo viên. Kết quả chính từ một nghiên cứu thử nghiệm trên 8 học sinh cho thấy, thiết kế của hệ thống có hiệu quả trong việc cá nhân hóa lộ trình học, xác định thành công trong việc xác định điểm yếu cá nhân và điều chỉnh độ khó theo thời gian thực.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 262
Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục mầm non và đề xuất giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi theo yêu cầu tại Nghị quyết số 218/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (Nghị quyết số 218/2025/QH15). Thông qua phân tích các văn bản, báo cáo của các cơ quan quản lí nhà nước, thống kê tổng hợp, đánh giá những khó khăn thách thức của giáo dục mầm non cho thấy việc thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 218/2025/QH15 sẽ gặp những khó khăn, thách thức về mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cơ chế, chính sách và nguồn lực đầu tư. Bài viết đề xuất giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu giáo từ 3 tuổi đến 5 tuổi. Những giải pháp này sẽ góp phần trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục mầm non trong giai đoạn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 426

Nghiên cứu này nhằm tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước về tác động của mạng xã hội đối với giáo dục và quản lí giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phổ biến của công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống học sinh, vừa mang đến những cơ hội phát triển vừa tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại. Bằng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu từ Google Scholar và Scopus, nghiên cứu đã hệ thống hóa 25 nguồn tài liệu tiêu biểu, đồng thời sử dụng kĩ thuật phân tích đồng xuất hiện từ khóa để nhận diện các xu hướng và chủ đề nghiên cứu chính. Kết quả cho thấy, mạng xã hội có những tác động tích cực như hỗ trợ học tập, phát triển kĩ năng số, hình thành năng lực công dân số, tạo không gian giáo dục giá trị và đạo đức, cũng như tăng cường sự kết nối giữa gia đình - nhà trường - xã hội. Tuy nhiên, song song với đó là hàng loạt hệ lụy tiêu cực bao gồm gia tăng bạo lực mạng, suy giảm kết quả học tập, tha hóa đạo đức, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và nguy cơ lệ thuộc vào công nghệ. Từ những kết quả này, nghiên cứu khẳng định rằng mạng xã hội là môi trường hai mặt, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với công tác giáo dục đạo đức và lối sống cho học sinh phổ thông.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 378
Trong bối cảnh toàn cầu chú trọng phát triển bền vững và thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, việc tích hợp giáo dục phát triển bền vững vào môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học trở thành định hướng cấp thiết. Bài viết tập trung hệ thống hóa cơ sở lí luận và đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả tích hợp giáo dục phát triển bền vững cho học sinh tiểu học. Trên cơ sở phân tích chương trình, tài liệu khoa học và định hướng quốc tế, nghiên cứu xác định bốn nhóm giải pháp khả thi: 1) Sử dụng trò chơi học tập; 2) Tổ chức tham quan, dã ngoại; 3) Triển khai dạy học theo dự án; 4) Thiết kế, sử dụng phương tiện dạy học trực quan. Các biện pháp này vừa phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi vừa góp phần hình thành năng lực, thói quen và hành động thực tiễn cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường và thực hiện lối sống bền vững. Nghiên cứu cung cấp định hướng tham khảo cho giáo viên, nhà trường và các nhà quản lí giáo dục trong việc phát triển giáo dục phát triển bền vững ở cấp Tiểu học.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 313
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative Artificial Intelligence - GenAI) ngày càng được tích hợp vào giáo dục, việc phát triển thang đo đáng tin cậy để đánh giá mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ này của giáo viên phổ thông là cần thiết. Nghiên cứu này xây dựng và chuẩn hóa một thang đo đa chiều dựa trên mô hình UTAUT3, đồng thời tích hợp hai thành phần mở rộng là tư duy thiết kế và nhận thức rủi ro nhằm phản ánh đặc trưng của bối cảnh giáo dục phổ thông Việt Nam. Bộ công cụ khảo sát gồm 42 biến quan sát, được hiệu chỉnh theo ngữ cảnh văn hóa - nghề nghiệp và khảo sát trên 1.053 giáo viên. Phân tích CFA xác nhận thang đo đạt các tiêu chí về độ tin cậy và giá trị (Cronbach’s alpha, CR, AVE, HTMT), sau hiệu chỉnh còn 39 biến quan sát với cấu trúc ổn định. Nghiên cứu đóng góp về lí thuyết khi mở rộng phạm vi diễn giải hành vi chấp nhận GenAI thông qua các yếu tố liên quan đến sáng tạo sư phạm và nhận thức rủi ro - những chiều cạnh ít được đề cập trong các nghiên cứu trước đây. Về thực tiễn, thang đo cung cấp công cụ đánh giá dựa trên bằng chứng phục vụ hoạch định chính sách và thiết kế chương trình bồi dưỡng giáo viên.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 307

Nghiên cứu này đánh giá tác động của Chatbot AI chuyên biệt đến tải nhận thức của sinh viên trong học phần Tâm lí học kĩ thuật tại Trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật Hưng Yên. Dựa trên lí thuyết tải nhận thức của Sweller, nhóm nghiên cứu thiết kế một Chatbot tùy chỉnh trên nền tảng GPT-4o, tích hợp nội dung môn học và triển khai cho 137 sinh viên. Dữ liệu khảo sát được thu thập qua bảng hỏi và phân tích bằng SPSS với các phương pháp thống kê mô tả, Cronbach’s Alpha và tương quan Pearson. Kết quả cho thấy, Chatbot góp phần giảm tải ngoại lai, hỗ trợ sinh viên hiểu rõ hơn các khái niệm trừu tượng, tiết kiệm thời gian học và nâng cao sự tự tin khi tự học. Các mối tương quan mạnh và có ý nghĩa thống kê giữa chất lượng Chatbot và hiệu quả học tập cho thấy tiềm năng của AI chuyên biệt trong cá nhân hóa học tập và nâng cao chất lượng đào tạo đại học.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 224
Bài viết này tập trung khảo sát thực tiễn triển khai, phân tích các ưu thế và hạn chế của chương trình, qua đó đưa ra những kiến nghị điều chỉnh phù hợp. Dữ liệu được thu thập thông qua việc phân tích văn bản chương trình, khảo sát giáo viên và cán bộ quản lí. Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình thể hiện rõ định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, cấu trúc hợp lí, nội dung mang tính hiện đại. Mặc dù vậy, chương trình vẫn có một số điểm chưa hợp lí về khối lượng kiến thức, tính hàn lâm của một số nội dung, mức độ tường minh trong các yêu cầu cần đạt… Kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh chương trình, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục và các cơ quan quản lí trong việc nâng cao chất lượng thực thi chương trình. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, rà soát định kì góp phần bảo đảm tính liên tục và hiệu quả phát triển chương trình.