HIẾN ĐỊNH VÀ LUẬT HÓA NGÔN NGỮ QUỐC GIA: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

HIẾN ĐỊNH VÀ LUẬT HÓA NGÔN NGỮ QUỐC GIA: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

Võ Thanh Hà* havt@gesd.edu.vn Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 101 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Hà Nội, Việt Nam
Lương Thị Hiền luonghien@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thủy, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Đoàn Thị Thúy Hạnh hanhdt@gesd.edu.vn Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 101 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Hà Nội, Việt Nam
Bùi Thanh Thủy thuybt@gesd.edu.vn Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 101 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Hà Nội, Việt Nam
Xuân Thị Nguyệt Hà xtnha@moet.gov.vn Bộ Giáo dục và Đào tạo 35 Đại Cồ Việt, phường Bạch Mai, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Bài viết khám phá vai trò trung tâm của Hiến pháp và Luật Ngôn ngữ trong việc quản lí bản sắc dân tộc, quyền con người và sự thống nhất quốc gia. Thông qua phương pháp tổng quan tài liệu, nghiên cứu phân tích các mô hình hiến định và cơ chế luật hóa ngôn ngữ quốc gia ở nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt, bài viết tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu liên quan đến vấn đề Việt Nam đã hiến định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia nhưng hệ thống quy định pháp lí thực thi (Luật hóa) vẫn còn phân tán và thiếu tính hệ thống. Kết quả nghiên cứu đề xuất một lộ trình thể chế hóa linh hoạt, trước mắt tập trung hoàn thiện các văn bản dưới Luật và quy định chuyên ngành thay vì áp đặt ngay một đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa thống nhất quốc gia và tôn trọng sự đa dạng ngôn ngữ, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng Luật Ngôn ngữ quốc gia trong dài hạn.
Từ khóa: 
Hiến định
luật hóa
ngôn ngữ quốc gia
chính sách ngôn ngữ
văn bản dưới Luật.
Tham khảo: 

[1] Choudhry, S. & Houlihan, E. C. (2021). Official Language Designation. International IDEA Constitution Building Primer 20. Stockholm: International IDEA.

[2] Cooper, R. L. (1989). Language planning and social change. Cambridge: Cambridge University Press.

[3] Fishman, J. A. (1972). Language in sociocultural change. Stanford: Stanford University Press.

[4] May, S. (2012). Language and minority rights: Ethnicity, nationalism and the politics of language. New York: Routledge.

[5] Nguyễn Văn Khang. (2019). Hiến định ngôn ngữ quốc gia và việc xây dựng “Luật Ngôn ngữ quốc gia” ở Việt Nam. Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia 2019, tr.334-341. Hà Nội.

[6] Rubin, J. & Jernudd, B. H. (1971). Can language be planned? Sociolinguistic theory and practice for developing nations. Honolulu: University Press of Hawaii.

[7] Shohamy, E. (2006). Language Policy: Hidden Agendas and New Approaches. London: Routledge.

[8] Skutnabb-Kangas, T. (2012). The role of linguistic human rights in language policy and planning.

[9] Spolsky, B. (2004). Language policy. Cambridge: Cambridge University Press.

[10] Spolsky, B. (2012). The Cambridge handbook of language policy. Cambridge: Cambridge University Press.

[11] Tsui, A. B. M. & Tollefson, J. W. (Eds.). (2017). Language policy, culture, and identity in Asian contexts. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.

[12] UNESCO. (2003). Recommendation concerning the promotion and use of multilingualism and universal access to cyberspace. Paris: UNESCO.

[13] Wiley, T. G. & García, O. (2016). Language policy and planning in language education: Legacies, consequences, and possibilities. The Modern Language Journal, 100(Suppl. 1), pp.48-63.

Bài viết cùng số