Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 60
Bài viết tập trung trình bày những nghiên cứu bước đầu về việc dạy học một số yếu tố giáo dục tài chính theo hướng tích hợp với nội dung môn Toán cấp Tiểu học. Trong bối cảnh giáo dục tài chính ngày càng được quan tâm trên thế giới, tại Việt Nam hiện nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu có tính hệ thống về việc xác định nội dung giáo dục tài chính và cách thức tích hợp nội dung này trong dạy học môn Toán ở nhà trường tiểu học. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước, kết hợp với phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia, phỏng vấn giáo viên, cán bộ quản lí và học sinh, bài báo xác định được những yếu tố cốt lõi của giáo dục tài chính với yêu cầu cần đạt (phù hợp với học sinh tiểu học) trong giai đoạn này, đồng thời đề xuất sáu chủ đề giáo dục tài chính. Bên cạnh đó, nghiên cứu xây dựng khung 12 kĩ năng giáo dục tài chính và 12 kĩ năng tính toán theo tiến trình phát triển kĩ năng của học sinh tiểu học, chỉ ra mối quan hệ song song, đan xen và hỗ trợ giữa hai trục kĩ năng này. Kết quả nghiên cứu góp phần hình thành cơ sở khoa học ban đầu cho việc phát triển nội dung, phương pháp và công cụ đánh giá trong dạy học tích hợp giáo dục tài chính ở Tiểu học, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về triển khai nội dung dạy học cụ thể và thực nghiệm sư phạm.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 59
Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng ảnh hưởng đến đời sống tâm lí của học sinh, nghiên cứu này tìm hiểu mối liên hệ giữa thể hiện bản thân trên mạng xã hội và sự hài lòng cuộc sống của học sinh trung học phổ thông. Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, nghiên cứu khảo sát trên 674 học sinh trung học phổ thông tại Đồng Tháp, Long An (thuộc Tây Ninh hiện nay) và Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2025. Kết quả cho thấy, học sinh thể hiện bản thân trên mạng xã hội về nhiều mặt ở mức trung bình và hài lòng cuộc sống trong nhiều lĩnh vực ở mức cao. Mức độ này cũng có sự khác biệt khi xét theo giới tính, học lực và nơi ở. Thể hiện bản thân trên mạng xã hội có tương quan thấp với hài lòng cuộc sống của học sinh trung học phổ thông, cho thấy sự hài lòng cuộc sống của học sinh chịu tác động từ nhiều yếu tố khác ngoài thể hiện bản thân trên mạng xã hội. Kết quả này gợi ý một số hướng nghiên cứu tiếp theo và can thiệp tâm lí trong giáo dục. Hạn chế của nghiên cứu cũng được đề cập trong bài báo.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 41
Nghiên cứu này phân tích cơ chế tác động của nhận thức về giảng dạy thực hành nghề nghiệp đến hiệu quả học tập thực hành của sinh viên điều dưỡng. Dựa trên lí thuyết tự điều chỉnh học tập, chúng tôi giả thuyết rằng, mối quan hệ này được trung gian bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang, thu thập dữ liệu từ 226 sinh viên và cựu sinh viên ngành Điều dưỡng có kinh nghiệm đào tạo thực hành. Dữ liệu được phân tích bằng kĩ thuật Mô hình hóa phương trình cấu trúc Bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy, nhận thức về giảng dạy không có tác động trực tiếp đến hiệu quả học tập thực hành. Thay vào đó, mối quan hệ này được trung gian hoàn toàn bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Cụ thể, nhận thức tích cực về giảng dạy thúc đẩy sinh viên chuẩn bị kĩ lưỡng cho các buổi thực hành và chính sự chuẩn bị này, đến lượt nó, lại nâng cao năng lực nghề nghiệp của họ. Cuối cùng, cả sự chuẩn bị và năng lực đều có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hiệu quả học tập. Những phát hiện này cho thấy để cải thiện chất lượng đào tạo thực hành, các nhà giáo dục cần tập trung vào việc xây dựng nhận thức tích cực cho sinh viên về quá trình giảng dạy. Việc tạo ra một môi trường học tập có cấu trúc, khuyến khích sự chuẩn bị và phát triển năng lực chuyên môn, là chìa khóa để chuyển hóa thái độ tích cực thành kết quả học tập cụ thể.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 45
Trong bối cảnh chuyển đổi số, giáo dục STEM được xem là hướng tiếp cận then chốt nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên kĩ thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu triển khai riêng lẻ dạy học theo dự án (PBL) hoặc quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP), thiếu các mô hình tích hợp có hệ thống và được kiểm chứng trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm chứng mô hình i-STEM (PD) tích hợp PBL và EDP, thông qua việc xây dựng mô hình, triển khai dự án STEM trong kĩ thuật điện và đánh giá tác động đến kết quả học tập và năng lực sinh viên. Phương pháp hỗn hợp với thiết kế thực nghiệm bán đối chứng được áp dụng trên 50 sinh viên, chia thành nhóm thực nghiệm và đối chứng. Dữ liệu thu thập từ bảng hỏi, quan sát và đánh giá học tập, được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test. Kết quả cho thấy, mô hình i-STEM (PD) cải thiện có ý nghĩa năng lực giải quyết vấn đề và năng lực thiết kế kĩ thuật, đồng thời nâng cao mức độ tham gia và thái độ học tập. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm và góp phần củng cố cơ sở lí luận, thực tiễn cho triển khai giáo dục STEM trong đào tạo kĩ thuật đại học tại Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 96

 
Kính gửi Quý Tác giả và bạn đọc,
 

Được sự quan tâm và tin tưởng của các tác giả, số lượng bản thảo gửi về công bố trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam tăng lên đáng kể. Kết quả thống kê 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, số bản thảo gửi về tăng 78% so với cùng kỳ năm ngoái.
 
Với tần suất xuất bản định kỳ mỗi tháng một số (mỗi số không quá 15 bài) sẽ không đáp ứng kịp thời nhu cầu minh chứng khoa học của các tác giả. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tác giả, đảm bảo nguyên tắc: thời gian chờ xuất bản của tất cả các bản thảo không quá 90 ngày (tính từ thời điểm bản thảo hoàn thành quy trình phản biện kín). Căn cứ số lượng bản thảo đã hoàn thiện quy trình phản biện đang lưu kho, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ xuất bản các số S xen kẽ các số thường kỳ. Số S1 là số S đầu tiên của năm 2026.

 
Trân trọng.
 

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 68
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục mầm non, kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với cha mẹ trẻ em giữ vai trò then chốt trong việc xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và gia đình. Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với cha mẹ trẻ em tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua khảo sát 120 giáo viên, 60 cha mẹ trẻ em thuộc các cơ sở giáo dục công lập và tư thục. Kết quả cho thấy phần lớn giáo viên mầm non nhận thức rõ tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp với cha mẹ trẻ em, tuy nhiên kĩ năng thực hành còn hạn chế như lắng nghe tích cực, ứng xử linh hoạt và xử lí tình huống nhạy cảm. Những khó khăn chính bắt nguồn từ áp lực công việc, thiếu thời gian, khác biệt trong nhận thức giữa giáo viên và cha mẹ trẻ em, cùng với việc thiếu các chương trình bồi dưỡng về giao tiếp sư phạm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng và biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp với cha mẹ trẻ em cho đội ngũ giáo viên mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 57
Hiện nay, chuyển đổi số trong dạy học ở các trường đại học trong Quân đội là một xu thế tất yếu, đặc biệt trước nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết quả nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn chuyên sâu và khảo sát định lượng 200 giảng viên, học viên ở Trường Đại học Chính trị cho thấy: Dù có sự sẵn sàng cao về nhận thức, trách nhiệm và con người; nhưng hạ tầng công nghệ thiếu đồng bộ, tâm lí ngại đổi mới của một bộ phận giảng viên, những quy định đặc thù về bảo mật và an toàn thông tin, chưa có sự đột phá về phương pháp dạy học đang là những rào cản chuyển đổi số trong dạy học ở Nhà trường. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất 05 nhóm giải pháp gồm: Nâng cao nhận thức và quyết tâm chính trị; Tạo đột phá về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ; Bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ; Rà soát, điều chỉnh chính sách và quy định quản lí; Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ở nhà trường và có thể vận dụng cho các trường đại học khác trong Quân đội.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 48
Bài viết đề xuất quy trình giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ trong lớp mẫu giáo ghép 3–6 tuổi trên cơ sở lí luận và dữ liệu khảo sát thực tiễn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp lí luận, khảo sát 45 giáo viên mầm non và tham vấn chuyên gia nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng và yêu cầu tổ chức hoạt động hợp tác trong lớp ghép. Kết quả cho thấy giáo viên nhận thức rõ vai trò của kĩ năng hợp tác, song còn hạn chế trong năng lực thiết kế và điều tiết hoạt động phù hợp với sự khác biệt độ tuổi. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất quy trình gồm năm giai đoạn được sắp xếp theo trình tự phát triển, phản ánh tiến trình hình thành và phát triển kĩ năng hợp tác của trẻ trong môi trường lớp mẫu giáo ghép 3–6 tuổi.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 50
Bài viết tập trung phân tích lĩnh vực phát triển nhận thức theo tiếp cận năng lực trong Chương trình Giáo dục mầm non của một số quốc gia trên thế giới và đề xuất định hướng cho Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thông qua tổng quan, phân tích và so sánh tài liệu. Kết quả cho thấy, các Chương trình Giáo dục mầm non trên thế giới đều lấy trẻ làm trung tâm, dựa trên quyền con người, phát triển nhận thức theo hướng tích hợp, gắn với toán, khoa học, công nghệ và môi trường, nhấn mạnh hoạt động chơi, trải nghiệm và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Kết quả đầu ra được xác định theo năng lực, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng nhận thức vào thực tiễn. Trên cơ sở đó, đề xuất phát triển nhận thức theo hướng tích hợp, tăng cường hoạt động chơi, trải nghiệm, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và xây dựng môi trường giáo dục phù hợp, góp phần hoàn thiện Chương trình Giáo dục mầm non Việt Nam theo hướng hiện đại và hội nhập.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 49
Nhằm thực hiện hiệu quả yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 về phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, việc bồi dưỡng năng lực cảm xúc - xã hội cho giáo viên tiểu học ngày càng được quan tâm. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lí luận, cấu trúc và vai trò của năng lực cảm xúc - xã hội trong đào tạo sinh viên sư phạm ngành Giáo dục tiểu học. Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, bài viết phân tích các mô hình tiêu biểu như CASEL, DOMASEC, SEB và lớp học vị xã hội (Prosocial Classroom), qua đó xác định năng lực cảm xúc - xã hội là một năng lực tổng hợp bao gồm nhận thức, cảm xúc, hành vi và giá trị đạo đức, có thể hình thành, phát triển thông qua giáo dục. Năng lực này giúp sinh viên sư phạm nhận thức và quản lí cảm xúc, thấu hiểu người khác, hợp tác hiệu quả và ra quyết định có trách nhiệm - những phẩm chất cốt lõi của giáo viên tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, góp phần hình thành đội ngũ giáo viên vừa có tri thức, vừa có tâm hồn, đáp ứng yêu cầu giáo dục phát triển bền vững.