Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 249
Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở các nhà trường quân đội hiện nay chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Vì vậy, việc xác định và đánh giá đúng vị trí, vai trò và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận và thực tiễn. Trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá mức độ tác động của những yếu tố thuộc về đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên và những yếu tố thuộc về nhà trường, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chủ yếu gồm: nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phát triển năng lực số cho cán bộ, giảng viên; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lí về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và xây dựng môi trường số trong nhà trường, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở nhà trường quân đội hiện nay.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 289
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, việc phát triển năng lực số cho giáo viên không chỉ là yêu cầu về mặt kĩ thuật mà còn là vấn đề về động lực học tập và phát triển nghề nghiệp bền vững. Bài viết vận dụng Lí thuyết Tự quyết định (Self-Determination Theory - SDT) để phân tích khung năng lực số cho giáo viên ở Châu Âu (DigCompEdu) và khung năng lực số cho giáo viên của UNESCO phiên bản 3 (ICT CFT v3). Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp phân tích tài liệu, thông qua việc trích xuất cấu trúc năng lực của từng khung, phân loại các thành tố theo ba nhu cầu tâm lí cơ bản của SDT (quyền tự chủ, năng lực bản thân và sự gắn kết) và so sánh mức độ tương thích ở từng khung năng lực số của giáo viên dựa trên các tiêu chí cụ thể về quyền tự chủ, năng lực bản thân và sự gắn kết. Kết quả phân tích cho thấy khung năng lực số DigCompEdu có mức độ tương thích cao với SDT ở cấp độ cá nhân nhờ nhấn mạnh quyền tự đánh giá, lộ trình phát triển năng lực rõ ràng và cộng đồng thực hành số của giáo viên. Trong khi đó, khung năng lực số ICT-CFT v3 thể hiện sự tương thích mạnh ở cấp độ hệ thống giáo dục, thông qua việc gắn phát triển năng lực số của giáo viên với chính sách, chương trình đào tạo và mục tiêu phát triển quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất việc kết hợp linh hoạt hai khung dưới nền tảng SDT là hướng tiếp cận phù hợp cho việc xây dựng Khung năng lực số cho giáo viên Việt Nam theo hướng phát triển bền vững.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 572
Trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI - GenAI), đang tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học. Công nghệ này vừa mở ra cơ hội đổi mới phương pháp dạy học vừa đặt ra thách thức về tính chính xác, đạo đức học thuật và nguy cơ phụ thuộc. Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra tiềm năng của GenAI trong hỗ trợ học tập và giảng dạy lập trình. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhất là tại các trường đại học địa phương, các nghiên cứu thực nghiệm để phân tích và đánh giá tình trạng này còn hạn chế và chưa có định hướng ứng dụng rõ ràng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp ứng dụng GenAI trong học lập trình cơ bản của sinh viên ngành Công nghệ thông tin. Kết quả khảo sát ở một số trường đại học địa phương cho thấy phần lớn sinh viên đã tiếp cận GenAI nhưng mới dừng ở mức khai thác cơ bản, chỉ đáp ứng các yêu cầu phổ thông và chưa thực hiện được các nhiệm vụ nâng cao như kiểm chứng thông tin hay cải tiến mã nguồn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp tích hợp GenAI vào hoạt động học tập lập trình, nhằm nâng cao hiệu quả tự học, phát triển năng lực sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, an toàn và có trách nhiệm.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 208
Bài viết phân tích chính sách hội nhập giáo dục đại học Châu Âu với hai chương trình tiêu biểu là quá trình Bologna và chương trình Erasmus Mundus dựa trên các thành tố chính của lí thuyết hội nhập khu vực. Theo Chủ nghĩa Tân chức năng, quá trình Bologna đã tiêu chuẩn hóa cấu trúc bằng cấp và thúc đẩy sự dịch chuyển của sinh viên và giảng viên với cơ chế công nhận bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn tương đương nội khối. Trong khi đó, chương trình Erasmus thúc đẩy sự dịch chuyển của sinh viên và giảng viên khi chấp nhận sự dịch chuyển linh hoạt. Với Chủ nghĩa Liên Chính phủ, quá trình Bologna và chương trình Erasmus Mundus một mặt thúc đẩy tiêu chuẩn hóa chung trong Liên minh nhưng mặt khác vẫn tôn trọng sự tự chủ trong hệ thống giáo dục đại học của từng quốc gia. Trong Chủ nghĩa Khu vực mới, Liên minh Châu Âu đã công nhận sự tham gia của các tác nhân và các cấp quản trị nội khối khác nhau. Mặc dù mang lại những thành tựu nhất định nhưng quá trình hội nhập giáo dục đại học của Liên minh Châu Âu vẫn có những hạn chế trong sự khác biệt về hệ thống giáo dục, quyền tự chủ của từng quốc gia thành viên cũng như sự bất bình đẳng tài chính và các nguồn lực hỗ trợ trong quá trình hội nhập khu vực.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 271
Giáo dục phát triển nhận thức ở trường mầm non có vai trò nền tảng trong việc hình thành nhân cách toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, quản lí hoạt động này tại các cơ sở mầm non hiện vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Nghiên cứu được tiến hành bằng bảng hỏi tự thuật đối với 10 cán bộ quản lí và 98 giáo viên của 5 trường mầm non công lập thuộc Cụm chuyên môn 1, Quận 6 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ 5 - 6 tuổi. Kết quả chỉ ra rằng, các nhà trường đã triển khai tốt khâu lập kế hoạch và tổ chức hoạt động, song còn yếu ở khâu giám sát, phản hồi và phát huy vai trò tổ chuyên môn. Nghiên cứu góp phần lấp khoảng trống thực tiễn về quản lí trong lĩnh vực phát triển nhận thức ở bậc Mầm non và đề xuất các biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lí, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo lớn trong bối cảnh địa phương.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 385
Thiết kế kế hoạch bài dạy là yêu cầu cốt lõi đối với giáo viên và nhà quản lí giáo dục, đóng vai trò định hướng toàn bộ hoạt động dạy học và tác động trực tiếp đến chất lượng cũng như hiệu quả giáo dục. Để thúc đẩy nghiên cứu trong lĩnh vực thiết kế kế hoạch bài dạy, việc tiến hành một tổng quan hệ thống là cần thiết. Bài viết sử dụng quy trình PRISMA để phân tích 46 công bố khoa học liên quan đến kế hoạch bài dạy tại Việt Nam, được đăng trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế trong giai đoạn 2018 - 2025. Các công trình được phân tích theo các tiêu chí: thời gian công bố, phương pháp luận, cấp học và môn học, từ khóa chính, tóm tắt, nội dung toàn văn cùng với các hạn chế và khó khăn được ghi nhận. Trên cơ sở đó, bài báo cung cấp bức tranh tổng quan về thực trạng và xu hướng nghiên cứu liên quan đến kế hoạch bài dạy, đồng thời đề xuất các định hướng phát triển trong tương lai. Một hạn chế cần lưu ý là chuỗi truy vấn có thể chưa bao phủ toàn diện và nghiên cứu chưa thực hiện đối sánh với các tổng quan quốc tế liên quan.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 172
Hiện nay, việc xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường ở các trường sĩ quan quân đội có tính cấp thiết, vừa đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, kỉ luật, hiệu quả vừa là cơ sở hình thành phẩm chất, năng lực và tư duy cho đội ngũ sĩ quan tương lai, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh” trong giai đoạn hội nhập và hiện đại hóa. Bài viết này tập trung phân tích những nguyên tắc, nội dung trọng tâm và những vấn đề đặt ra trong xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường sĩ quan quân đội trong bối cảnh hiện nay, đồng thời chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu, bao gồm: sự cần thiết nghiên cứu để xác định cơ chế, phương thức triển khai văn hóa nhà trường phù hợp với thực tiễn quân đội, đánh giá tác động của văn hóa nhà trường, cũng như nhận diện các yếu tố hạn chế, thách thức trong quản lí, giáo dục và phát triển con người trong môi trường quân sự. Trên cơ sở đó, bài viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập thông tin, phân tích - tổng hợp tài liệu, nghiên cứu và tổng kết các sản phẩm khoa học cùng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết để bảo đảm tính khách quan, tin cậy trong quá trình nghiên cứu.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 293
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 205
Toán cao cấp là học phần nền tảng bắt buộc đối với sinh viên khối Kinh tế, song thường bị xem là trừu tượng và xa rời thực tiễn. Kết quả khảo sát tại Trường Đại học Hải Dương cho thấy một nghịch lí đáng chú ý: Phần lớn giảng viên và sinh viên đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc gắn kết Toán học với các tình huống kinh tế thực tế, nhưng việc triển khai trên thực tế còn rất hạn chế do thiếu tài liệu và hướng dẫn cụ thể. Khoảng trống này cho thấy, cần có những nghiên cứu và mô hình khả thi nhằm tích hợp hiệu quả các bài toán có bối cảnh kinh tế vào giảng dạy Toán cao cấp. Bài viết trình bày cơ sở lí luận, phân tích thực trạng và đề xuất quy trình tích hợp bài toán có bối cảnh kinh tế vào dạy học, góp phần tăng tính ứng dụng, phát triển năng lực tư duy phân tích, mô hình hóa và ra quyết định cho sinh viên khối Kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc gắn kết nội dung toán học với các tình huống kinh tế không chỉ giúp nâng cao hứng thú học tập mà còn tạo cầu nối vững chắc giữa kiến thức toán học và thực tiễn nghề nghiệp.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 153
Bài viết khám phá vai trò trung tâm của Hiến pháp và Luật Ngôn ngữ trong việc quản lí bản sắc dân tộc, quyền con người và sự thống nhất quốc gia. Thông qua phương pháp tổng quan tài liệu, nghiên cứu phân tích các mô hình hiến định và cơ chế luật hóa ngôn ngữ quốc gia ở nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt, bài viết tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu liên quan đến vấn đề Việt Nam đã hiến định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia nhưng hệ thống quy định pháp lí thực thi (Luật hóa) vẫn còn phân tán và thiếu tính hệ thống. Kết quả nghiên cứu đề xuất một lộ trình thể chế hóa linh hoạt, trước mắt tập trung hoàn thiện các văn bản dưới Luật và quy định chuyên ngành thay vì áp đặt ngay một đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa thống nhất quốc gia và tôn trọng sự đa dạng ngôn ngữ, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng Luật Ngôn ngữ quốc gia trong dài hạn.

