Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 204
Năng lực số của giảng viên là yếu tố quyết định đến hiệu quả chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay có không ít giảng viên vẫn còn gặp khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục. Nguyên nhân cơ bản do hoạt động bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên ở các nhà trường còn có những hạn chế nhất định cả về nội dung, phương thức bồi dưỡng và cơ sở vật chất hạ tầng công nghệ; bên cạnh đó, vai trò tự giác của giảng viên trong tự bồi dưỡng chưa được phát huy. Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lí luận về năng lực số và bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên, bài viết tiến hành khái quát, đánh giá thực trạng tìm ra những khoảng trống trong công tác bồi dưỡng và đề xuất các giải pháp, gồm: Nâng cao nhận thức cho các chủ thể bồi dưỡng; xác định đúng nội dung, đổi mới phương thức bồi dưỡng; phát huy vai trò của giảng viên trong tự bồi dưỡng và xây dựng hệ sinh thái số, nhằm nâng cao năng lực số cho giảng viên, đáp ứng yêu cầu quá trình chuyển đổi số giáo dục hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 135
Bài báo phân tích tiến trình phát triển chương trình giáo dục cho trẻ khuyết tật tại Việt Nam trong bối cảnh đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu lịch sử, chính sách và văn bản pháp luật, kết quả cho thấy quá trình phát triển trải qua bốn giai đoạn chính: 1) 1945 - 1975: Hình thành những mô hình giáo dục chuyên biệt ban đầu, chủ yếu mang tính thiện nguyện và nhân đạo; 2) 1975 - 1986: Xây dựng thể chế và mở rộng hệ thống trường lớp chuyên biệt; 3) 1986 - 2010: Định hình giáo dục hòa nhập, chịu ảnh hưởng của các cam kết quốc tế như Công ước về Quyền Trẻ em (1990), Tuyên bố Salamanca (1994); 4) 2010 - 2025: Thể chế hóa toàn diện, tập trung nâng cao chất lượng và bảo đảm công bằng trong giáo dục. Bài báo cũng chỉ ra các thành tựu trong phát triển chương trình, song vẫn tồn tại hạn chế về tính hệ thống, phát triển và phù hợp với trẻ em khuyết tật. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng phát triển chương trình theo tiếp cận quyền, chú trọng cá nhân hóa, chuyển đổi số nhằm tiến tới một hệ thống giáo dục công bằng và chất lượng cho mọi trẻ em khuyết tật.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 108
Bài viết đã tìm hiểu, phân tích, so sánh về mục tiêu giáo dục, hệ thống các môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học của các chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình 1981, Chương trình 2006 và Chương trình 2018), gắn với hai lần đổi mới Chương trình. Kết quả cho thấy, giáo dục toàn diện ở tiểu học luôn được quan tâm. Qua các lần đổi mới, mục tiêu giáo dục, hệ thống các môn học và hoạt động giáo dục cũng đã có những đổi mới, phát triển phù hợp bối cảnh, điều kiện, yêu cầu đối với giáo dục tiểu học ở từng giai đoạn đồng thời chương trình ngày càng hiện đại, theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học và tiếp cận xu thế hiện đại về phát triển chương trình. Qua đó chỉ ra một số bài học kinh nghiệm và khuyến nghị cho việc thực hiện chương trình và phát triển chương trình giai đoạn tới.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 168
Bài báo tổng quan tiến trình đổi mới Chương trình Giáo dục phổ thông tại Việt Nam, tập trung vào sự chuyển dịch từ cách tiếp cận nội dung (Chương trình 2006) sang tiếp cận năng lực (chương trình 2018). Trên cơ sở phân tích hồi cứu các văn bản chính sách như Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 91/NQ-CP, kết hợp với dữ liệu quốc gia và quốc tế (PISA 2022, TALIS 2018), nghiên cứu làm rõ những thay đổi trong cấu trúc chương trình, phương pháp kiểm tra đánh giá và ứng dụng công nghệ. Kết quả cho thấy, Chương trình mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực song vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục quan tâm như thiếu hụt đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất chưa đồng đều và nhu cầu đào tạo về công nghệ thông tin. Bài báo đề xuất một số định hướng chính sách nhằm tăng cường đầu tư nguồn lực và hạ tầng, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai chương trình trong giai đoạn tiếp theo.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 91
Bài báo tổng kết chặng đường 80 năm (1945-2025) công tác đưa du học sinh Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài, từ những bước khởi đầu trong bối cảnh kháng chiến đến giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng. Đào tạo du học sinh ở nước ngoài không chỉ đóng góp trong cuộc đấu tranh giành độc lập mà còn tạo nguồn nhân lực cho quá trình tái tiết và hiện đại hóa sau này. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về chính sách và thực tiễn của Việt Nam trong việc cử cán bộ, học sinh, sinh viên đi học tập ở nước ngoài trong 80 năm qua. Các phát hiện nêu bật vai trò quan trọng và các kết quả của chương trình này. Bằng cách nhìn lại và tổng kết những thành tựu thu thông qua phương pháp lịch sử, tổng hợp và thống kê mô tả dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ, báo cáo chính thức và các nghiên cứu đã công bố, nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ trương cử cán bộ, học sinh đi đào tạo ở nước ngoài, không chỉ là biện pháp tạm thời ứng biến với tình trạng thiếu hụt cán bộ sau chiến tranh, mà đó còn là một quyết sách có tính chiến lược, góp phần đào tạo nên tầng lớp trí thức cách mạng, lực lượng lãnh đạo và kiến tạo trong các ngành nghề, lĩnh vực cốt lõi của quốc gia.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 127
Cuộc Cải cách Giáo dục lần thứ hai ở Miền Bắc Việt Nam năm 1956 đánh dấu bước ngoặt trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên nền bối cảnh sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, cải cách nhằm xóa bỏ tàn dư giáo dục thực dân, thống nhất hệ thống và đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc kiến thiết đất nước. Nghiên cứu vận dụng phương pháp lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp và so sánh để làm rõ nội dung và tác động của cải cách. Kết quả cho thấy, cải cách đã hình thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm, ban hành chương trình - sách giáo khoa mới, phát triển mạng lưới trường lớp và đội ngũ giáo viên, đồng thời củng cố quản lí nhà nước và nguồn lực tài chính. Thành tựu nổi bật là xóa mù chữ, mở rộng quy mô giáo dục và đào tạo lực lượng trí thức phục vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, cải cách cũng bộc lộ hạn chế về chất lượng đào tạo và phương pháp giảng dạy, trong khi việc triển khai lại diễn ra trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, khiến mô hình giáo dục này chỉ giới hạn ở Miền Bắc. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để đánh giá giá trị và bài học lịch sử của mô hình cải cách này.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 124
Bài viết phân tích sự phát triển của quan niệm và chính sách về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh trong trường học ở Việt Nam, nhằm làm rõ các xu hướng chuyển dịch, thành tựu, thách thức và định hướng phát triển trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu xuất phát từ khoảng trống về các phân tích có tính hệ thống, liên kết giữa tiến trình lịch sử, khung chính sách và bối cảnh chuyển đổi số đối với vấn đề này. Trên cơ sở tiếp cận định tính, bài viết sử dụng tổng quan tài liệu, phân tích chính sách và hồi cứu lịch sử để tổng hợp, diễn giải các nguồn dữ liệu liên quan. Kết quả cho thấy môi trường giáo dục ở Việt Nam đã chuyển từ cách tiếp cận thiên về quản lí kỉ luật sang định hướng phát triển toàn diện, chú trọng an toàn tâm lí, quan hệ xã hội tích cực và vai trò chủ thể của học sinh. Hệ thống chính sách cũng mở rộng từ bảo đảm điều kiện học tập sang tích hợp phòng chống bạo lực học đường, hỗ trợ tâm lí và bảo vệ học sinh trong môi trường số. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức về điều kiện triển khai, nguồn lực và khoảng cách giữa quy định với thực tiễn.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 142
Nghiên cứu phân tích xu hướng và thực trạng các công bố nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001-2025 thông qua áp dụng phương pháp trắc lượng thư mục đối với 1,005 bài báo trên các tạp chí lĩnh vực giáo dục chỉ mục SCOPUS. Kết quả cho thấy, hoạt động nghiên cứu bắt đầu tăng trưởng năm 2016 và tăng nhanh từ năm 2020. Tập trung giai đoạn 2020 2025, phần lớn bài báo công bố trên các tạp chí chất lượng Q1 và Q2. Từ kết quả phân tích dữ liệu SCOPUS, mạng lưới các quốc gia hợp tác chặt chẽ nhất với Việt Nam trong tổng số 46 quốc gia trên thế giới là Úc. Phần lớn nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam được thực hiện bởi các tác giả người Việt, trong đó các tác giả đến từ Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có nhiều đóng góp nhất. Các nhóm và các chủ đề nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam đã nắm bắt xu hướng các vấn đề nghiên cứu trên thế giới, đồng thời các vấn đề nghiên cứu đặc trưng của giáo dục và đào tạo Việt Nam cũng được quan tâm nghiên cứu. Giáo dục đại học và giáo dục phổ thông là hai cấp bậc có xu hướng tăng trưởng nhanh nhất. Các phát hiện này giúp cho các nhà chính sách, các nhà quản lí giáo dục tham khảo và đưa ra chiến lược phát triển ngành và định hướng nghiên cứu trong tương lai.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 150
Giáo dục hòa nhập là một xu hướng giáo dục tiến bộ trên thế giới, hướng tới giáo dục bình đẳng và chất lượng cho mọi trẻ em. Ở Việt Nam, giáo dục hòa nhập đã được thực hiện từ năm 1990. Bằng phương pháp nghiên cứu tổng quan, bài viết trình bày những vấn đề lí luận về giáo dục hòa nhập và thực tiễn thực hiện giáo dục hòa nhập tập trung vào 2 giai đoạn: Từ năm 1986 đến năm 2010 và từ năm 2010 đến nay. Từ đó, bài viết đã chỉ ra được những thành tựu và thách thức trong quá trình thực hiện giáo dục hòa nhập ở Việt Nam trong suốt quá trình từ khi áp dụng mô hình giáo dục hòa nhập cho đến nay. Đây sẽ là căn cứ để đề xuất các chiến lược phát triển phương thức giáo dục hòa nhập cho giai đoạn tiếp theo giúp học sinh khuyết tật được đảm bảo quyền học tập suốt đời và hòa nhập xã hội.