Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 74
Các nghiên cứu về sự sẵn sàng giao tiếp (Willingness to Communicate) (WTC) trong bối cảnh giáo dục ngoại ngữ tại Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên thiết kế khảo sát cắt ngang và đo lường WTC như một đặc điểm tương đối ổn định tại một thời điểm tổng quát. Tuy nhiên, theo mô hình của MacIntyre và cộng sự (1998) và dưới góc nhìn của Lí thuyết Hệ thống Động lực Phức tạp (CDST), WTC được khái niệm hóa như một trạng thái phụ thuộc thời điểm, có thể dao động trong tiến trình thực hiện nhiệm vụ giao tiếp. Sự lệch pha giữa nền tảng lí thuyết động và cách đo lường tĩnh đặt ra yêu cầu điều chỉnh phương pháp luận. Thông qua tổng quan tích hợp các công trình thực nghiệm và lí thuyết tiêu biểu về phương pháp đo lường động được công bố từ năm 2011 đến 2025 trên các cơ sở dữ liệu SCOPUS, Web of Science, Google Scholar và ERIC, bài viết này đề xuất phương pháp đo lường động (Idiodynamic) như một hướng mở rộng trong nghiên cứu WTC tại Việt Nam, trình bày các nguyên tắc cốt lõi, phân tích ưu điểm và hạn chế, đồng thời giới thiệu thiết kế “neo kép” kết hợp đánh giá thời gian thực và kích thích hồi tưởng nhằm tăng độ nhạy tiến trình và tính phù hợp lí thuyết.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 76
Nghiên cứu đề xuất một hướng tổ chức dạy học phân hóa môn Toán lớp 11 theo định hướng nghề nghiệp dành cho học sinh có năng lực toán học hạn chế. Nghiên cứu khảo sát khó khăn học tập, động cơ học tập và nhận thức nghề nghiệp của học sinh, đồng thời phân tích vai trò của bối cảnh nghề nghiệp trong hỗ trợ vận dụng kiến thức Toán học. Nghiên cứu được thực hiện với 412 học sinh và 18 giáo viên tại tỉnh Lâm Đồng bằng phương pháp khảo sát cắt ngang kết hợp dữ liệu định lượng và định tính. Kết quả cho thấy, học sinh gặp khó khăn chủ yếu trong việc hiểu các khái niệm Toán học trừu tượng và vận dụng kiến thức vào giải bài tập; động cơ học tập và nhận thức nghề nghiệp còn hạn chế. So với cách triển khai dạy học phân hóa thông thường, tiếp cận được đề xuất xem bối cảnh nghề nghiệp được sử dụng như cơ sở tổ chức hoạt động học tập thay vì chỉ dùng để minh họa sau bài học. Theo đó, các tình huống nghề nghiệp tạo ra nhu cầu sử dụng kiến thức Toán học và nhiệm vụ học tập được phân hóa theo mức độ giải quyết vấn đề thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cho thấy bối cảnh nghề nghiệp có thể góp phần giảm tính trừu tượng của kiến thức và hỗ trợ học sinh tham gia học tập tích cực hơn.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 71
Năng lực số đóng vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên khối ngành Khoa học Sức khỏe phân tích và ứng dụng dữ liệu y sinh học trong học tập và nghiên cứu. Tuy nhiên, trong dạy học học phần Toán Thống kê Y học, việc phát triển năng lực số cho sinh viên còn hạn chế do chưa tích hợp đầy đủ công nghệ số và dữ liệu xác thực trong các nhiệm vụ học tập. Nghiên cứu này đề xuất tổ chức dạy học Toán Thống kê Y học theo định hướng phát triển năng lực số cho sinh viên Khoa học Sức khỏe. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, phân tích tài liệu và tổng hợp các công trình liên quan, bài báo xây dựng quy trình dạy học tích hợp công cụ số vào các tình huống y học nhằm cung cấp cơ sở lí luận cho việc phát triển năng lực tìm kiếm, xử lí dữ liệu, phân tích thống kê và ứng dụng công nghệ số trong học tập và nghiên cứu.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 112
Trong bối cảnh chuyển đổi số tại các trường phổ thông, việc nâng cao năng lực chuyển đổi số để đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí sẵn sàng cho quá trình này giữ vai trò then chốt. Bài viết tập trung tổng hợp và phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia nhằm làm rõ các chiến lược và phương thức bồi dưỡng hiệu quả. Các kinh nghiệm quốc tế cho thấy tầm quan trọng của việc đào tạo dựa trên khung năng lực chuẩn hóa, cá nhân hóa lộ trình phát triển và xây dựng cộng đồng học tập chuyên môn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm xây dựng lộ trình bài bản, giúp nâng cao tiềm lực và sự sẵn sàng cho chuyển đổi số của giáo viên và cán bộ quản lí tại các trường trung học phổ thông ở Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 71
Nghiên cứu này nhằm làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường tiểu học ngoài công lập Thành phố Hồ Chí Minh theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nghiên cứu tập trung phân tích mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện của các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, các lực lượng giáo dục; kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức. Nghiên cứu được triển khai thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn sâu, với mẫu khảo sát gồm 200 cán bộ quản lí và giáo viên tại 15 trường tiểu học, dữ liệu được xử lí bằng thống kê mô tả. Kết quả cho thấy, giáo dục đạo đức cho học sinh đã thực hiện nhưng kết đạt được chưa cao. Quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn tồn tại sự thiếu đồng bộ và hệ thống giữa các thành tố giáo dục, cũng như hiệu quả chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi đạo đức của học sinh chưa bền vững. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc thù của các trường tiểu học ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 58
Nghiên cứu này mô tả thực trạng nhận thức pháp luật về quyền con người của sinh viên trong hoạt động giáo dục, đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với thiết kế mô tả cắt ngang, khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 489 sinh viên hệ chính quy và xử lí dữ liệu bằng thống kê mô tả trên phần mềm Jamovi. Kết quả cho thấy, sinh viên nhìn chung có thái độ tích cực đối với quyền con người và thừa nhận vai trò của giáo dục quyền con người trong môi trường sư phạm. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết về các nhóm quyền con người, văn bản pháp luật quốc tế, quy định pháp luật Việt Nam và mức độ tham gia vào các hoạt động giáo dục pháp luật về quyền con người còn chưa đồng đều. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn cho việc rà soát chương trình đào tạo, tăng cường hoạt động trải nghiệm và nâng cao hiệu quả tích hợp giáo dục quyền con người trong đào tạo giáo viên.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 54
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình hỗ trợ tích cực đối với thực hành nghề nghiệp của giáo viên mầm non khi hỗ trợ trẻ 18–36 tháng tuổi chậm nói trong lớp học hòa nhập. Thiết kế bán thực nghiệm theo mô hình đo lường trước – sau được áp dụng với 30 giáo viên tại 06 trường mầm non ở Hà Nội. Dữ liệu được thu thập thông qua phiếu hỏi cấu trúc và được kiểm chứng thông qua các nguồn thông tin bổ trợ nhằm tăng cường độ tin cậy của đánh giá về thực hành nghề nghiệp của giáo viên. Phân tích sử dụng kiểm định T-test mẫu phụ thuộc và hệ số ảnh hưởng. Kết quả cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê ở cả ba phương diện. Giáo viên nâng cao nhận thức về chậm nói, hiểu rõ hơn các chiến lược tương tác phản hồi và tăng cường thực hành tương tác có chủ đích. Kích thước ảnh hưởng đạt mức lớn đến rất lớn, phản ánh ý nghĩa thực tiễn mạnh mẽ. Nghiên cứu củng cố các tiếp cận can thiệp dựa trên tương tác và môi trường tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo viên trong thúc đẩy giao tiếp sớm. Kết quả cung cấp cơ sở cho việc nhân rộng chương trình trong giáo dục mầm non Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 49
Bài viết tập trung nghiên cứu năng lực xây dựng môi trường giáo dục an toàn của sinh viên ngành Giáo dục mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Mục tiêu nhằm đánh giá thực trạng nhận thức, kĩ năng và thái độ của sinh viên đối với việc tạo lập môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện cho trẻ mầm non; đồng thời đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực này trong quá trình đào tạo. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp khảo sát, phỏng vấn và quan sát thực hành sư phạm đối với sinh viên tại một số cơ sở đào tạo giáo viên mầm non. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên có nhận thức đúng về vai trò của môi trường giáo dục an toàn, tuy nhiên kĩ năng nhận diện rủi ro và xử lí tình huống sư phạm còn hạn chế. Từ đó, bài viết kiến nghị tăng cường nội dung thực hành, mô phỏng tình huống và phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với trường mầm non thực hành, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay.