Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 111
Trong bối cảnh chuyển đổi số, học liệu số ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng dạy học ở trường phổ thông. Vì vậy, quản lí sử dụng học liệu số cần được tiếp cận theo một mô hình hệ thống nhằm làm rõ các thành tố cấu thành và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình dạy học. Nghiên cứu này tập trung xây dựng khung lí thuyết về quản lí sử dụng học liệu số trong dạy học ở trường phổ thông dựa trên mô hình CIPO. Phương pháp tổng quan tài liệu được sử dụng để phân tích các nghiên cứu liên quan đến giáo dục số và hiệu quả giáo dục. Mô hình đề xuất gồm bốn thành tố có mối quan hệ chặt chẽ: bối cảnh, đầu vào, quá trình và đầu ra. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú thêm cơ sở lí luận về quản lí giáo dục mà còn là nền tảng quan trọng cho các nghiên cứu thực nghiệm và hoạch định chính sách trong tương lai.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 107
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, tự chủ đại học, giảng viên không chỉ là người thực hiện chương trình mà còn là chủ thể tham gia phát triển chương trình đào tạo. Nghiên cứu về năng lực phát triển chương trình đào tạo của giảng viên mới vào nghề ở trường đại học sư phạm còn hạn chế. Bài viết nhằm đề xuất khung năng lực phát triển chương trình đào tạo cho giảng viên mới vào nghề ở Trường Đại học Sư phạm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và tham vấn chuyên gia với 03 chuyên gia thông qua hình thức tham vấn trực tiếp và thử nghiệm kiểm định trên 50 giảng viên mới vào nghề ở 03 Trường Đại học Sư phạm. Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 27.0 để xử lí dữ liệu về kiểm định độ tin cậy của thang đo. Kết quả nghiên cứu là khung năng lực gồm 08 năng lực thành phần, bao quát các khâu từ nhận thức về chương trình đào tạo, phân tích bối cảnh và nhu cầu, xác định mục tiêu và chuẩn đầu ra, thiết kế nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo và đánh giá đến cải tiến và hợp tác trong phát triển chương trình đào tạo.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 90
Năng lực tìm hiểu tự nhiên là một trong ba năng lực thành phần của năng lực khoa học tự nhiên. Để phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên, học sinh cần được học qua quan sát, khám phá và giải thích các hiện tượng xung quanh và giải quyết vấn đề thực tế hay thường được biết đến là học tập dựa trên hiện tượng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại khoảng trống về khung lí thuyết tổ chức học tập dựa trên hiện tượng và tác động của tổ chức học tập dựa trên hiện tượng đến phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho học sinh. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục gồm thu thập thông tin, phân tích, so sánh tài liệu và thực nghiệm sư phạm để làm rõ ba nội dung cơ bản: 1) Khái niệm và đặc điểm của học tập dựa trên hiện tượng; 2) Quy trình tổ chức học tập dựa trên hiện tượng môn Khoa học tự nhiên 7 để phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho học sinh; 3) Tác động của quy trình tổ chức học tập dựa trên hiện tượng môn Khoa học Tự nhiên 7 đến phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho học sinh. Kết quả nghiên cứu đề xuất được quy trình tổ chức học tập dựa trên hiện tượng môn Khoa học Tự nhiên 7 và chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của việc áp dụng quy trình này đến phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 270
Nghiên cứu này đánh giá thực trạng năng lực số của giáo viên Giáo dục quốc phòng và an ninh thông qua khảo sát tại một số trường trung học phổ thông ở Việt Nam. Hiện nay, năng lực số là yêu cầu tất yếu đối với giáo viên phổ thông, tuy nhiên vẫn đang thiếu các nghiên cứu ứng dụng khung chuẩn quốc gia để đo lường năng lực này đối với những môn học có tính đặc thù. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá mức độ thường xuyên trong việc ứng dụng các kĩ năng số của giáo viên dựa trên Khung năng lực số do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, kết hợp với các tiêu chuẩn an toàn trên không gian mạng. Về phương pháp, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lượng, khảo sát 712 giáo viên. Kết quả cho thấy, giáo viên thường xuyên thực hiện các kĩ năng về an toàn không gian mạng và bảo mật thông tin, nhưng tần suất thực hiện rất thấp trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ mô phỏng vào dạy học. Bên cạnh đó, kết quả kiểm định phương sai cũng cho thấy kinh nghiệm thực tiễn và trình độ chuyên môn là những yếu tố có tác động phân hóa đến mức độ ứng dụng công cụ kiểm tra, đánh giá trên môi trường số của giáo viên. Những phát hiện này có giá trị thực tiễn, giúp các nhà quản lí xây dựng chiến lược bồi dưỡng năng lực số phù hợp, từ đó nâng cao chất lượng dạy học trong bối cảnh chuyển đổi số.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 93
Giáo dục vì sự phát triển bền vững đã trải qua bước chuyển về tư duy, từ quan điểm tập trung vào tài nguyên sang cách tiếp cận khai phóng, ưu tiên quyền tự quyết và năng lực phản biện của người học. Với vai trò là công cụ thực thi chính sách cốt lõi, chương trình giảng dạy quốc gia đóng nhiệm vụ then chốt trong việc định chế hoá ESD. Nghiên cứu này phân tích việc tích hợp ESD trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam - một cuộc cải cách dựa trên định hướng năng lực điển hình. Bằng phương pháp phân tích nội dung định tính đối với các chương trình môn học, nghiên cứu xem xét mức độ tương thích của ESD trên ba khía cạnh: Mục tiêu học tập, nội dung chủ đề và phương pháp sư phạm. Kết quả xác định được 193 chủ đề liên quan đến ESD được tích hợp theo cả chiều dọc và chiều ngang. Mặc dù chương trình thể hiện sự phù hợp về mặt cấu trúc với các phương pháp sư phạm chuyển đổi, kết quả cho thấy khía cạnh môi trường vẫn chiếm ưu thế (44,4%) so với các chủ đề xã hội (37,4%) và đặc biệt là kinh tế (19,2%). Nghiên cứu kết luận rằng, dù Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã hình thành một khung tích hợp ESD có cấu trúc song cần bổ sung các chiến lược cân bằng hơn giữa ba trụ cột phát triển bền vững, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa thiết kế chính sách và thực tiễn giảng dạy. Những phát hiện này có hàm ý chính sách quan trọng cho việc điều chỉnh chương trình, bồi dưỡng giáo viên và xây dựng cơ chế giám sát tích hợp ESD tại Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 131
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục nhằm hệ thống hóa cấu trúc tri thức, xu hướng phát triển và các chủ đề nghiên cứu nổi bật về thái độ của sinh viên đại học đối với trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong học tập. Dữ liệu gồm 43 bài báo cuối cùng đáp ứng tiêu chí lựa chọn từ cơ sở dữ liệu Dimensions từ năm 2022 đến tháng 01 năm 2026, được phân tích thông qua các kĩ thuật đồng tác giả, đồng xuất hiện từ khóa, phân tích trích dẫn bằng phần mềm VOSviewer và SCImago Graphica. Kết quả cho thấy xu hướng tăng trưởng nhanh chóng về số lượng công bố từ năm 2023. Tuy nhiên, mạng lưới nghiên cứu hiện tại còn rời rạc, chưa tạo ra sự gắn kết để định hình một cộng đồng nghiên cứu cốt lõi. Song, ghi nhận sự xuất hiện của hướng tiếp cận lấy người học làm trung tâm với các biến số mới như năng lực trí tuệ nhân tạo, niềm tin vào năng lực bản thân và nhận thức về rủi ro. Nghiên cứu không chỉ khái quát các chủ đề và xu hướng nghiên cứu chính về thái độ của sinh viên đại học đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh, mà còn đề xuất các hướng nghiên cứu mới, hỗ trợ tích hợp trí tuệ nhân tạo tạo sinh một cách hiệu quả và có trách nhiệm trong giáo dục đại học.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,064

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đặc biệt là ChatGPT, đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với dạy học Ngữ văn. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu bằng chứng thực nghiệm về cơ chế tác động giữa sự sẵn sàng của giáo viên, mức độ tích hợp công cụ theo tác vụ sư phạm và nhận thức rủi ro trong bối cảnh môn học này ở trường phổ thông. Sử dụng thiết kế cắt ngang, nghiên cứu khảo sát 269 giáo viên Ngữ văn trường trung học phổ thông tại Đà Nẵng và kiểm định mô hình ba cấu trúc R – TA – PR bằng path analysis kết hợp bootstrap percentile 5.000 lần lặp. Kết quả cho thấy, giáo viên có mức sẵn sàng cao nhưng mức tích hợp theo tác vụ chỉ ở mức trung bình; ChatGPT chủ yếu được dùng cho tìm kiếm tư liệu và chuẩn bị bài, ít được dùng ở các tác vụ phần lõi như phân tích, diễn giải tác phẩm và đánh giá học sinh. Nhận thức rủi ro ở mức cao, tập trung vào gian lận học thuật và sự phụ thuộc của học sinh. Sự sẵn sàng dự báo mạnh mức tích hợp theo tác vụ và có liên hệ ngược chiều trực tiếp với nhận thức rủi ro. Tuy nhiên, mức tích hợp theo tác vụ không dự báo có ý nghĩa nhận thức rủi ro và không trung gian hóa quan hệ giữa sự sẵn sàng và nhận thức rủi ro. Phát hiện này gợi ý rằng, việc tăng tần suất sử dụng không làm thay đổi cảm nhận rủi ro về việc ChatGPT của giáo viên Ngữ văn.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 249

Dạy học dựa trên bối cảnh là một hướng tiếp cận giúp học sinh vận dụng Toán học vào thực tiễn theo định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Tuy nhiên, việc thiết kế tình huống phù hợp vẫn là thách thức đối với nhiều giáo viên. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Gen-AI) tạo sinh mở ra cơ hội hỗ trợ thiết kế tình huống dạy học hiệu quả hơn. Bài viết này đề xuất một quy trình thiết kế tình huống dạy học Toán dựa trên bối cảnh với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp lí luận, thông qua phân tích, tổng hợp các công trình trong và ngoài nước về dạy học dựa trên bối cảnh, ứng dụng Gen-AI trong dạy học toán. Kết quả nghiên cứu là một quy trình thiết kế tình huống dạy học môn Toán dựa trên bối cảnh với sự hỗ trợ của Gen-AI, đồng thời minh họa việc vận dụng quy trình đối với chủ đề hệ phương trình bậc nhất hai ẩn ở lớp 9. Quy trình đề xuất cung cấp cơ sở tham khảo cho giáo viên trong thiết kế tình huống dạy học Toán dựa trên bối cảnh với sự hỗ trợ của AI.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 211
Bài viết này nhằm tổng quan các công trình về phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Sư phạm dựa trên mô hình TPACK. Với cách tiếp cận tổng quan kết hợp giữa phân tích thư mục và phân tích chủ đề nội dung, nghiên cứu tiến hành tìm hiểu số lượng công bố, mạng lưới từ khóa, xu hướng nghiên cứu và các chủ đề nổi bật. Dữ liệu được lựa chọn trên cơ sở dữ liệu SCOPUS, sàng lọc theo quy trình PRISMA, đảm bảo phù hợp với tiêu chí nghiên cứu. Quá trình phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm VOSviewer, Excel. Kết quả cho thấy, nghiên cứu về TPACK trong đào tạo sinh viên Sư phạm có sự gia tăng sau năm 2020, thể hiện định hướng về đổi mới đào tạo giáo viên trong bối cảnh chuyển đổi số. Các chủ đề nổi bật gồm phát triển TPACK thông qua khóa học và chương trình đào tạo, TPACK theo đặc thù môn học, thiết kế bài học, đánh giá TPACK trong thực hành và ứng dụng công nghệ mới. Nghiên cứu kì vọng cung cấp những cơ sở tham khảo cho nhà nghiên cứu, giảng viên sư phạm và các cơ sở đào tạo giáo viên trong thiết kế chương trình phát triển năng lực dạy học tích hợp công nghệ.