Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 5
Cảm xúc của giáo viên đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong giáo dục ngôn ngữ, phản ánh bản chất phức tạp và năng động của việc giảng dạy. Bài báo này đánh giá có hệ thống các khung lí thuyết được sử dụng trong nghiên cứu về cảm xúc của giáo viên ngôn ngữ, bao gồm Lí thuyết Hoạt động, Lí thuyết Điều chỉnh Cảm xúc, Lí thuyết Đánh giá và Lí thuyết Văn hóa - Xã hội. Các khung lí thuyết này cung cấp những góc nhìn đa dạng về cách cảm xúc của giáo viên được hình thành và ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân, xã hội và tổ chức. Sử dụng phương pháp đánh giá tài liệu có hệ thống, nghiên cứu này phân tích điểm mạnh, hạn chế và mức độ phù hợp của từng khung lí thuyết trong việc nắm bắt tính phức tạp của cảm xúc giáo viên. Kết quả cho thấy cảm xúc của giáo viên không phải là những phản ứng cá nhân cô lập mà được đồng xây dựng trong các cộng đồng chuyên môn và bị ảnh hưởng bởi các chính sách tổ chức và hỗ trợ xã hội. Bài báo đề xuất rằng, nghiên cứu tương lai nên tiếp tục khám phá cách áp dụng các khung lí thuyết này trong các bối cảnh giáo dục đa dạng và phát triển các chính sách hỗ trợ để tăng cường khả năng phục hồi cảm xúc và hạnh phúc nghề nghiệp của giáo viên.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 76
Bài viết trình bày kết quả xác định mức độ tác động của yếu tố quản lí đến kết quả giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở các trường mầm non công lập Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng với mẫu khảo sát gồm 125 cán bộ quản lí và giáo viên. Kết quả phân tích cho thấy, các yếu tố như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả giáo dục hòa nhập có mối tương quan dương ở mức cao. Trong đó, yếu tố tổ chức cho thấy tác động tích cực có ý nghĩa đến kết quả giáo dục hòa nhập, trong khi các yếu tố còn lại có tác động không đáng kể. Nghiên cứu đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí, từ đó góp phần cải thiện chất lượng giáo dục hòa nhập trong các cơ sở giáo dục mầm non. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra những gợi ý về các khía cạnh cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong các công trình sau này.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 6
Hoạt động dạy học môn học lớp 9 nhằm định hướng nghề nghiệp là một trong những biện pháp rèn luyện kĩ năng, nâng cao nhận thức về ngành nghề, chuẩn bị hỗ trợ cho học sinh lựa chọn môn học ở lớp 10 và nghề nghiệp tương lai. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu xác định cách thức tổ chức dạy học các nội dung/chủ đề môn học thông qua việc liên kết nội dung môn học với ứng dụng trong thực tiễn các nghề nghiệp thực tế, kết hợp các cơ hội học tập trải nghiệm, thúc đẩy các phương pháp học tập chủ động. Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết để phân tích, xác định các nguyên tắc dạy học, nội dung chủ đề có khả năng dạy học hướng nghiệp và quy trình xây dựng hoạt động dạy học nhằm hướng nghiệp cho học sinh thông qua môn học. Kết quả của nghiên cứu bao gồm: 1) Phân tích các nguyên tắc trong việc tổ chức định hướng nghề nghiệp trong môn học; 2) Phân tích các đặc điểm cụ thể của chương trình một số môn học có khả năng hướng nghiệp; 3) Đề xuất quy trình xây dựng các hoạt động học tập nhằm mục đích định hướng nghề nghiệp cho học sinh và thiết kế minh họa một chủ đề trong môn Khoa học tự nhiên lớp 9.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 10
Dạy học kết hợp là một trong những mô hình mới dựa trên nền tảng số xuất hiện trong những thập kỉ gần đây đã thúc đẩy việc dạy và học trở nên năng động hơn, mang đến những trải nghiệm học tập đa dạng. Mô hình này có nhiều ưu thế trong dạy học nói chung và dạy học các môn lựa chọn ở trường trung học phổ thông nói riêng. Nhằm đánh giá thực trạng vận dụng mô hình dạy học kết hợp đối với các môn lựa chọn, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 1850 giáo viên trung học phổ thông trên 05 tỉnh thành, đại diện cho các vùng miền cả nước. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết giáo viên đã nhận thức đúng và đầy đủ về bản chất của mô hình dạy học kết hợp. Trong quá trình dạy học, giáo viên đã chủ động tích cực triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ số, thực hiện dạy học kết hợp ở những mức độ nhất định. Điều đáng ghi nhận là dù còn nhiều khó khăn nhưng hầu hết giáo viên đều có tâm thế sẵn sàng phát triển bản thân để thích ứng với việc thực hiện mô hình dạy học mới. Bên cạnh kết quả đó vẫn còn một số bất cập liên quan đến nhận thức của giáo viên, những vướng mắc trong quá trình áp dụng mô hình dạy học kết hợp. Đây là căn cứ thực tiễn quan trọng để tìm kiếm các biện pháp hỗ trợ giúp giáo viên khắc phục khó khăn, áp dụng mô hình dạy học kết hợp có hiệu quả vào thực tiễn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 10
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục đại học, hoạt động thể dục thể thao sinh viên cũng cần được tổ chức theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn. Bài viết đề xuất một số phương án vận dụng chuyển đổi số trong tổ chức hoạt động thể dục thể thao tại các trường đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời đại số. Cụ thể, bài viết tập trung vào bốn nhóm giải pháp chính: 1) Ứng dụng nền tảng số trong quản lí và tổ chức hoạt động thể dục thể thao; 2) Phát triển hoạt động thể dục thể thao trực tuyến và mô hình kết hợp; 3) Số hóa quy trình tổ chức và điều phối hoạt động thể dục thể thao; 4) Đào tạo và nâng cao năng lực cho giảng viên và cán bộ quản lí trong môi trường số. Các đề xuất này được xây dựng dựa trên các điều kiện thực tế và phù hợp với chiến lược chuyển đổi số quốc gia nhằm thúc đẩy môi trường giáo dục thể chất năng động, hiện đại và bền vững tại các trường đại học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 303
Sự sẵn sàng giao tiếp, một yếu tố quan trọng trong thành công của việc học ngôn ngữ, thường bị cản trở bởi các rào cản tâm lí như sợ mắc lỗi và thiếu tự tin. Bên cạnh đó, thói quen tư duy hữu hình là các hoạt động có cấu trúc khuyến khích suy nghĩ sâu sắc và tạo cơ hội để người học phản ánh về quá trình tư duy, cung cấp các khung hỗ trợ để người học sắp xếp tư duy của mình, tham gia phản biện và giao tiếp hiệu quả. Nghiên cứu này khám phá lợi ích của thói quen tư duy hữu hình trong việc nâng cao sự sẵn sàng giao tiếp của người học. Bài viết giới thiệu các khái niệm về thói quen tư duy hữu hình, sau đó phân tích các ảnh hưởng tích cực của thói quen tư duy hữu hình tới sự sẵn sàng giao tiếp. Kết luận của bài báo nhấn mạnh tiềm năng của thói quen tư duy hữu hình như một công cụ sư phạm giúp tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích người học chủ động sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, đồng thời đưa ra các gợi ý cho nghiên cứu trong tương lai và ứng dụng rộng rãi hơn trong dạy học tiếng Anh.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 5,290
Bài viết tổng quan các nghiên cứu về quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng. Trong đó, các nghiên cứu về giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng được tiếp cận từ các thành tố của quá trình giáo dục; các nghiên cứu về quản lí hoạt động này được tiếp cận từ mô hình quản lí chất lượng PDCA (Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Cải tiến). Nhiều công trình trong và ngoài nước đã khẳng định tầm quan trọng, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, kết quả đạt được của hoạt động này. Một số nghiên cứu bước đầu đề cập đến các bước trong quy trình quản lí từ sự cần thiết, việc lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, đánh giá kết quả và cải tiến hoạt động. Tuy nhiên, bài viết chỉ ra rằng, lí luận về quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng hiện vẫn còn thiếu tính hệ thống, chưa có những nghiên cứu đồng bộ, toàn diện trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng. Từ đó, bài viết khuyến nghị cần có các nghiên cứu sâu hơn để nâng cao hiệu quả quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 141
Nghiên cứu thực hiện đánh giá mối tương quan giữa kết quả học tập cấp Trung học phổ thông (HSGPA) của 55.658 và 33.551 học sinh tham dự kì thi Đánh giá năng lực (HSA) của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024 và 2023. Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu gồm điểm trung bình chung học tập lớp 10, 11 và học kì 1 lớp 12 với điểm thi HSA của học sinh. Hệ số tương quan giữa điểm HSGPA và HSA được đánh giá theo tỉ lệ hiệp phương sai điểm HSGPA và HSA với độ lệch chuẩn của hai biến số này. Hệ số tương quan Pearson giữa điểm thi HSA và điểm học tập cấp Trung học phổ thông tính toán được tương đối thấp. Giá trị r nằm trong khoảng 0,34 đến 0,41; không ổn định theo năm và khu vực tuyển sinh. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị các cơ sở giáo dục đại học cân nhắc về độ tin cậy và chất lượng đào tạo khi sử dụng điểm HSGPA trong xét tuyển đại học.