Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 181
Nghiên cứu này phân tích việc vận dụng chu trình PDCA (Plan-Do-Check-Act) trong quản lí dạy học tiếng Anh có ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tại Trường Đại học FPT trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học Việt Nam. Với phương pháp định tính và thiết kế nghiên cứu trường hợp, dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn bán cấu trúc 10 giảng viên và 02 cán bộ quản lí, sau đó xử lí bằng phân tích chủ đề theo bốn giai đoạn của PDCA. Kết quả cho thấy hai giai đoạn đầu (Plan, Do) được triển khai linh hoạt, thể hiện sự chủ động trong lập kế hoạch và đổi mới phương pháp dạy học, trong khi các giai đoạn sau (Check, Act) còn hạn chế về tiêu chí đánh giá và phản hồi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất mô hình AI-PDCA giúp chuẩn hóa quy trình quản lí, thúc đẩy cải tiến liên tục và hình thành mô hình quản trị dạy học tiếng Anh thông minh trong giáo dục đại học Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 155
Trong các loại hình dạy học khám phá thì dạy học khám phá định lí là phương pháp dạy học cốt lõi. Phương pháp dạy học khám phá giúp học sinh kiến tạo kiến thức cho chính mình. Chủ đề “xác suất lí thuyết và xác suất thực nghiệm” là chủ đề quan trọng. Mục đích của nghiên cứu là khai thác hiệu quả việc vận dụng phương pháp dạy học khám phá định lí với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm tạo ra môi trường học tập chủ động, tương tác và cá nhân hóa trong dạy học chủ đề “xác suất lí thuyết và xác suất thực nghiệm”. Trí tuệ nhân tạo không chỉ đóng vai trò cung cấp mô hình mô phỏng tình huống xác suất đa dạng mà còn hỗ trợ giáo viên trong việc phân tích tiến trình học tập, đưa ra gợi ý kịp thời. Phương pháp dùng để đạt được mục tiêu nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu lí luận. Kết quả quan trọng nhất của bài báo là xây dựng được quy trình và tổ chức được cách thức vận dụng phương pháp dạy học khám phá định lí vào chủ đề “Xác suất lí thuyết và xác suất thực nghiệm” với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo cho học sinh lớp 8.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 212
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học, năng lực số của giảng viên chi phối đổi mới dạy học và phát triển nghề nghiệp. Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu chủ yếu mô tả việc dùng công cụ, ít làm rõ trải nghiệm và lộ trình phát triển, nhất là ở khối ngoại ngữ. Nghiên cứu này khảo sát cách giảng viên tiếng Anh hiểu, kiến tạo và phát triển năng lực số, đồng thời nhận diện các yếu tố cá nhân, tổ chức và văn hóa tác động. Theo tiếp cận hiện tượng học, dữ liệu từ 18 giảng viên tại ba trường đại học được thu thập qua phỏng vấn bán cấu trúc, nhật kí phản tư và phân tích tài liệu. Kết quả cho thấy năng lực số chủ yếu được bồi đắp bằng tự học và hợp tác đồng nghiệp; rào cản nổi bật là văn hóa kiểm soát và thiếu hỗ trợ, trong khi lãnh đạo định hướng và cộng đồng chuyên môn nội bộ thúc đẩy quá trình này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất mô hình EFL DigCompVN và khái niệm quản trị phát triển năng lực số thích ứng văn hoá, mở rộng khung DigCompEdu theo hướng nhấn mạnh bối cảnh, đồng thời gợi ý hàm ý chính sách cho phát triển nghề nghiệp số của giảng viên tiếng Anh tại Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 230
Bài viết phân tích việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lí lớp học tại các trường Đại học Sư phạm kĩ thuật. Bài viết sử dụng phương pháp khảo sát và phỏng vấn giảng viên, sinh viên nhằm làm rõ lợi ích, thách thức và điều kiện triển khai trí tuệ nhân tạo trong hoạt động dạy học. Kết quả cho thấy trí tuệ nhân tạo có thể góp phần nâng cao hiệu quả quản lí lớp học, hỗ trợ theo dõi quá trình học tập và cải thiện hiệu quả giảng dạy khi được áp dụng phù hợp. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế liên quan đến cơ sở hạ tầng, năng lực số của giảng viên và các vấn đề đạo đức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả và có trách nhiệm trong giáo dục đại học. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ các trường Đại học Sư phạm kĩ thuật tại Việt Nam, góp phần bổ sung khoảng trống nghiên cứu về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lí lớp học ở bối cảnh đào tạo giáo viên kĩ thuật.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 230
Trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong những năng lực quan trọng cần phải hình thành và phát triển cho học sinh. Năng lực giao tiếp và hợp tác có vai trò đặc biệt quan trọng cần phát triển ở học sinh, giúp học sinh có khả năng thích ứng, hội nhập và qua đó phát triển năng lực bản thân. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về đổi mới phương pháp dạy học phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 10. Đồng thời, bài viết phân tích, so sánh và đánh giá thực trạng đổi mới phương pháp dạy học tại một số trường trung học phổ thông, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông trong giảng dạy môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 10 đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 166
Tác giả đề xuất khung Dự báo → Phân tầng → Can thiệp cho học phần Kĩ năng mềm. Nhật kí hoạt động tuần T1-T7, điểm chuyên cần/thưởng, bài tập ngắn và báo cáo đồng học/tự đánh giá được chuẩn hoá thành đặc trưng ở mức cá nhân và nhóm. Mô hình XGBoost đa lớp kèm hiệu chỉnh isotonic và chia tách group–aware tạo xác suất tin cậy, từ đó suy ra cảnh báo ĐỎ/VÀNG/XANH và tổng hợp lớp/nhóm (phối trộn tầng, danh sách rủi ro). Trên một học kì giữ lại để kiểm định, hệ thống đạt Accuracy = 0.772, Macro-F1 = 0.520, AUPRC(C) = 0.739, Brier = 0.1008, ECE = 0.0577; mô hình tách rõ nhóm thành tích cao so với trung bình và dù lớp C hiếm vẫn xếp hạng rủi ro hiệu quả theo precision - recall. Quy trình chi phí thấp (Google Forms/Sheets thêm ít mã Python), minh bạch, dễ tái lập và hỗ trợ can thiệp phân tầng kịp thời.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 211
Miệt thị ngoại hình đang trở thành một dạng bạo lực tinh thần phổ biến trong trường học và trên không gian mạng, đòi hỏi cần có các chương trình giáo dục giúp học sinh nhận diện và phòng tránh. Nghiên cứu được tiến hành trong 04 tháng cuối năm 2024 trên học sinh lớp 5 tại tỉnh Phú Thọ với ba biện pháp rèn kĩ năng nhận diện nguy cơ bị miệt thị ngoại hình: 1) Thiết kế và tổ chức trò chơi nhận diện; 2) Tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với tình huống thực tiễn; 3) Sinh hoạt chuyên đề theo chủ điểm. Thực nghiệm được triển khai với 53 học sinh lớp thực nghiệm và 55 học sinh lớp đối chứng, đảm bảo tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường giáo dục, trình độ giáo viên và cơ sở vật chất. Kết quả cho thấy, ba biện pháp đều có tính cần thiết, khả thi, hiệu quả và có giá trị ứng dụng trong thực tiễn. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chương trình giáo dục phòng chống miệt thị ngoại hình ở trường tiểu học, đồng thời nâng cao năng lực tự bảo vệ và kĩ năng sống cho học sinh trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 200
Bài viết tổng quan có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển kĩ năng chăm sóc đáp ứng cho sinh viên và giáo viên mầm non, qua đó làm rõ xu hướng nghiên cứu và các định hướng thực tiễn chủ yếu. Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình PRISMA, phân tích 19 công trình khoa học được lựa chọn từ ba cơ sở dữ liệu VJOL, ResearchGate và Google Scholar. Kết quả cho thấy, chăm sóc đáp ứng được xác định là nguyên tắc sư phạm cốt lõi trong giáo dục mầm non, giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng tương tác giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ. Trên cơ sở phân tích nội dung các nghiên cứu, bài viết hệ thống hóa năm định hướng nghiên cứu và triển khai thực tiễn nổi bật, gồm: 1) Xây dựng chương trình và mô-đun đào tạo kĩ năng chăm sóc đáp ứng; 2) Phát triển năng lực cảm xúc và năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non; 3) Áp dụng các chiến lược tương tác đáp ứng trong môi trường lớp học; 4) Thúc đẩy mô hình phối hợp hỗ trợ giữa gia đình và cộng đồng; 5) Tăng cường thực hành nghề và trải nghiệm thực tập cho sinh viên sư phạm mầm non. Từ đó, bài viết đề xuất đẩy mạnh nghiên cứu thực nghiệm, tích hợp phát triển năng lực cảm xúc trong đào tạo giáo viên, đồng thời xây dựng mô hình hợp tác nhà trường - gia đình - cộng đồng nhằm thể chế hóa chăm sóc đáp ứng như một chuẩn mực nghề nghiệp trong giáo dục mầm non.