Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 49
Nhằm thực hiện hiệu quả yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 về phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, việc bồi dưỡng năng lực cảm xúc - xã hội cho giáo viên tiểu học ngày càng được quan tâm. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lí luận, cấu trúc và vai trò của năng lực cảm xúc - xã hội trong đào tạo sinh viên sư phạm ngành Giáo dục tiểu học. Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, bài viết phân tích các mô hình tiêu biểu như CASEL, DOMASEC, SEB và lớp học vị xã hội (Prosocial Classroom), qua đó xác định năng lực cảm xúc - xã hội là một năng lực tổng hợp bao gồm nhận thức, cảm xúc, hành vi và giá trị đạo đức, có thể hình thành, phát triển thông qua giáo dục. Năng lực này giúp sinh viên sư phạm nhận thức và quản lí cảm xúc, thấu hiểu người khác, hợp tác hiệu quả và ra quyết định có trách nhiệm - những phẩm chất cốt lõi của giáo viên tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, góp phần hình thành đội ngũ giáo viên vừa có tri thức, vừa có tâm hồn, đáp ứng yêu cầu giáo dục phát triển bền vững.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 67
Bài viết tổng thuật, phân tích và so sánh một số nghiên cứu ở trong và ngoài nước về dạy học viết theo định hướng tích hợp kĩ năng đọc - viết, qua đó chỉ ra các xu hướng tiếp cận chủ đạo trong phát triển kĩ năng viết văn bản nghị luận cho học sinh trung học phổ thông. Các nghiên cứu ở nước ngoài nhấn mạnh vai trò của tư duy phản biện, cấu trúc lập luận và mối quan hệ tương tác giữa hoạt động đọc và viết như những yếu tố trung tâm trong quá trình hình thành kĩ năng viết văn bản nghị luận. So sánh với bối cảnh nghiên cứu trong nước cho thấy mặc dù đã có một số công trình đề cập đến dạy học viết văn bản nghị luận và mối quan hệ giữa đọc và viết trong môn Ngữ văn, việc khảo sát và vận dụng một cách có hệ thống dạy học tích hợp đọc - viết ở cấp Trung học phổ thông vẫn còn là khoảng trống nghiên cứu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng tiếp cận dạy học tích hợp đọc - viết làm cơ sở lí luận cho các nghiên cứu thực nghiệm và thiết kế mô hình dạy học viết văn bản nghị luận trong bối cảnh giáo dục Việt Nam.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 41
Nghiên cứu này phân tích cơ chế tác động của nhận thức về giảng dạy thực hành nghề nghiệp đến hiệu quả học tập thực hành của sinh viên điều dưỡng. Dựa trên lí thuyết tự điều chỉnh học tập, chúng tôi giả thuyết rằng, mối quan hệ này được trung gian bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang, thu thập dữ liệu từ 226 sinh viên và cựu sinh viên ngành Điều dưỡng có kinh nghiệm đào tạo thực hành. Dữ liệu được phân tích bằng kĩ thuật Mô hình hóa phương trình cấu trúc Bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy, nhận thức về giảng dạy không có tác động trực tiếp đến hiệu quả học tập thực hành. Thay vào đó, mối quan hệ này được trung gian hoàn toàn bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Cụ thể, nhận thức tích cực về giảng dạy thúc đẩy sinh viên chuẩn bị kĩ lưỡng cho các buổi thực hành và chính sự chuẩn bị này, đến lượt nó, lại nâng cao năng lực nghề nghiệp của họ. Cuối cùng, cả sự chuẩn bị và năng lực đều có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hiệu quả học tập. Những phát hiện này cho thấy để cải thiện chất lượng đào tạo thực hành, các nhà giáo dục cần tập trung vào việc xây dựng nhận thức tích cực cho sinh viên về quá trình giảng dạy. Việc tạo ra một môi trường học tập có cấu trúc, khuyến khích sự chuẩn bị và phát triển năng lực chuyên môn, là chìa khóa để chuyển hóa thái độ tích cực thành kết quả học tập cụ thể.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 45
Trong bối cảnh chuyển đổi số, giáo dục STEM được xem là hướng tiếp cận then chốt nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên kĩ thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu triển khai riêng lẻ dạy học theo dự án (PBL) hoặc quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP), thiếu các mô hình tích hợp có hệ thống và được kiểm chứng trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm chứng mô hình i-STEM (PD) tích hợp PBL và EDP, thông qua việc xây dựng mô hình, triển khai dự án STEM trong kĩ thuật điện và đánh giá tác động đến kết quả học tập và năng lực sinh viên. Phương pháp hỗn hợp với thiết kế thực nghiệm bán đối chứng được áp dụng trên 50 sinh viên, chia thành nhóm thực nghiệm và đối chứng. Dữ liệu thu thập từ bảng hỏi, quan sát và đánh giá học tập, được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test. Kết quả cho thấy, mô hình i-STEM (PD) cải thiện có ý nghĩa năng lực giải quyết vấn đề và năng lực thiết kế kĩ thuật, đồng thời nâng cao mức độ tham gia và thái độ học tập. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm và góp phần củng cố cơ sở lí luận, thực tiễn cho triển khai giáo dục STEM trong đào tạo kĩ thuật đại học tại Việt Nam.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 96
Kính gửi Quý Tác giả và bạn đọc,
Được sự quan tâm và tin tưởng của các tác giả, số lượng bản thảo gửi về công bố trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam tăng lên đáng kể. Kết quả thống kê 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, số bản thảo gửi về tăng 78% so với cùng kỳ năm ngoái.
Với tần suất xuất bản định kỳ mỗi tháng một số (mỗi số không quá 15 bài) sẽ không đáp ứng kịp thời nhu cầu minh chứng khoa học của các tác giả. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tác giả, đảm bảo nguyên tắc: thời gian chờ xuất bản của tất cả các bản thảo không quá 90 ngày (tính từ thời điểm bản thảo hoàn thành quy trình phản biện kín). Căn cứ số lượng bản thảo đã hoàn thiện quy trình phản biện đang lưu kho, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ xuất bản các số S xen kẽ các số thường kỳ. Số S1 là số S đầu tiên của năm 2026.
Với tần suất xuất bản định kỳ mỗi tháng một số (mỗi số không quá 15 bài) sẽ không đáp ứng kịp thời nhu cầu minh chứng khoa học của các tác giả. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tác giả, đảm bảo nguyên tắc: thời gian chờ xuất bản của tất cả các bản thảo không quá 90 ngày (tính từ thời điểm bản thảo hoàn thành quy trình phản biện kín). Căn cứ số lượng bản thảo đã hoàn thiện quy trình phản biện đang lưu kho, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ xuất bản các số S xen kẽ các số thường kỳ. Số S1 là số S đầu tiên của năm 2026.
Trân trọng.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 71
Nghiên cứu này nhằm làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường tiểu học ngoài công lập Thành phố Hồ Chí Minh theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nghiên cứu tập trung phân tích mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện của các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, các lực lượng giáo dục; kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức. Nghiên cứu được triển khai thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn sâu, với mẫu khảo sát gồm 200 cán bộ quản lí và giáo viên tại 15 trường tiểu học, dữ liệu được xử lí bằng thống kê mô tả. Kết quả cho thấy, giáo dục đạo đức cho học sinh đã thực hiện nhưng kết đạt được chưa cao. Quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn tồn tại sự thiếu đồng bộ và hệ thống giữa các thành tố giáo dục, cũng như hiệu quả chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi đạo đức của học sinh chưa bền vững. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc thù của các trường tiểu học ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 58
Nghiên cứu này mô tả thực trạng nhận thức pháp luật về quyền con người của sinh viên trong hoạt động giáo dục, đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với thiết kế mô tả cắt ngang, khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 489 sinh viên hệ chính quy và xử lí dữ liệu bằng thống kê mô tả trên phần mềm Jamovi. Kết quả cho thấy, sinh viên nhìn chung có thái độ tích cực đối với quyền con người và thừa nhận vai trò của giáo dục quyền con người trong môi trường sư phạm. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết về các nhóm quyền con người, văn bản pháp luật quốc tế, quy định pháp luật Việt Nam và mức độ tham gia vào các hoạt động giáo dục pháp luật về quyền con người còn chưa đồng đều. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn cho việc rà soát chương trình đào tạo, tăng cường hoạt động trải nghiệm và nâng cao hiệu quả tích hợp giáo dục quyền con người trong đào tạo giáo viên.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 54
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình hỗ trợ tích cực đối với thực hành nghề nghiệp của giáo viên mầm non khi hỗ trợ trẻ 18–36 tháng tuổi chậm nói trong lớp học hòa nhập. Thiết kế bán thực nghiệm theo mô hình đo lường trước – sau được áp dụng với 30 giáo viên tại 06 trường mầm non ở Hà Nội. Dữ liệu được thu thập thông qua phiếu hỏi cấu trúc và được kiểm chứng thông qua các nguồn thông tin bổ trợ nhằm tăng cường độ tin cậy của đánh giá về thực hành nghề nghiệp của giáo viên. Phân tích sử dụng kiểm định T-test mẫu phụ thuộc và hệ số ảnh hưởng. Kết quả cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê ở cả ba phương diện. Giáo viên nâng cao nhận thức về chậm nói, hiểu rõ hơn các chiến lược tương tác phản hồi và tăng cường thực hành tương tác có chủ đích. Kích thước ảnh hưởng đạt mức lớn đến rất lớn, phản ánh ý nghĩa thực tiễn mạnh mẽ. Nghiên cứu củng cố các tiếp cận can thiệp dựa trên tương tác và môi trường tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo viên trong thúc đẩy giao tiếp sớm. Kết quả cung cấp cơ sở cho việc nhân rộng chương trình trong giáo dục mầm non Việt Nam.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 49
Bài viết tập trung nghiên cứu năng lực xây dựng môi trường giáo dục an toàn của sinh viên ngành Giáo dục mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Mục tiêu nhằm đánh giá thực trạng nhận thức, kĩ năng và thái độ của sinh viên đối với việc tạo lập môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện cho trẻ mầm non; đồng thời đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực này trong quá trình đào tạo. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp khảo sát, phỏng vấn và quan sát thực hành sư phạm đối với sinh viên tại một số cơ sở đào tạo giáo viên mầm non. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên có nhận thức đúng về vai trò của môi trường giáo dục an toàn, tuy nhiên kĩ năng nhận diện rủi ro và xử lí tình huống sư phạm còn hạn chế. Từ đó, bài viết kiến nghị tăng cường nội dung thực hành, mô phỏng tình huống và phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với trường mầm non thực hành, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 50
Bài viết trình bày việc dạy học chủ đề Ba đường conic (Elip, hypebol, parabol) ở Toán 10 theo hướng phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học cho học sinh, phù hợp với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Toán. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu liên quan đến năng lực tư duy và lập luận Toán học, phân tích yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Toán và nghiên cứu nội dung chủ đề Ba đường conic, bài viết đề xuất ba biện pháp dạy học gồm: 1) Thiết kế các tình huống dạy học để rèn luyện thao tác phân tích, tổng hợp và lập luận Toán học; 2) Thiết kế các tình huống dạy học để rèn luyện thao tác khái quát hóa; 3) Thiết kế các tình huống dạy học để rèn luyện thao tác đặc biệt hóa. Các biện pháp được minh họa thông qua những tình huống dạy học cụ thể trong chủ đề Ba đường conic và góp phần phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học cho học sinh.

