Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 5,051
ChatGPT là công cụ hỗ trợ học tập mạnh mẽ cho học sinh, cung cấp khả năng giải đáp thắc mắc, tổng hợp kiến thức và tạo ra tài liệu học tập cá nhân hóa. Nó giúp cải thiện kĩ năng nghiên cứu và học tập độc lập, đồng thời kích thích sự tò mò, khám phá kiến thức mới một cách linh hoạt và hiệu quả. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, bài viết đề cập đến tình hình hiện tại về thực trạng của việc sử dụng ChatGPT hỗ trợ học tập của 870 học sinh trong 07 quận/huyện trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Qua quá trình phân tích thực trạng từ 870 phiếu khảo sát của học sinh trung học phổ thông, thông qua kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất năm giải pháp cho việc sử dụng ChatGPT vào hỗ trợ cho học sinh trung học phổ thông. Kết quả của nghiên cứu là mục tiêu tối ưu hóa ứng dụng của ChatGPT trong quá trình học tập cho học sinh, cung cấp sự hỗ trợ thông tin, giải đáp thắc mắc và tăng cường kĩ năng học tập cho học sinh trung học phổ thông.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,905
Được biết đến là một trong những khía cạnh quan trọng của năng lực sư phạm, phong cách giảng dạy là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình thay đổi hành vi và sự thành công trong học tập của học sinh. Có sự đa dạng và độc đáo trong cách giáo viên tiếp cận và truyền đạt kiến thức đến học sinh. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết, bài viết khái quát năm mô hình phong cách giảng dạy tiêu biểu cũng như làm rõ các yếu tố tác động đến phong cách giảng dạy của giáo viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan đến việc phát triển các chiến lược điều chỉnh phong cách giảng dạy để tối ưu hóa quá trình dạy học.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,160
Dạy học vi mô là phương pháp quan trọng để chuẩn bị cho giáo viên tương lai vượt qua những thách thức trong môi trường lớp học trong thực tiễn, nâng cao sự hiểu biết về các nội dung dạy học. Bài viết trình bày nghiên cứu ứng dụng dạy học vi mô để phát triển năng lực dạy học môn Lịch sử và Địa lí cho sinh viên trong học phần Phương pháp dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội. Mẫu nghiên cứu gồm 42 sinh viên năm thứ ba đang theo học tại ngành Giáo dục tiểu học, khoa Sư phạm của Trường Đại học Thủ Dầu Một. Sinh viên tự chuẩn bị các kế hoạch bài dạy sau đó thực hành tập giảng, ghi hình, xem video và phân tích. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định, dạy học vi mô là phương pháp hiệu quả để cải thiện nhận thức của sinh viên trong dạy học Lịch sử và Địa lí, chất lượng và số lượng các thành phần của năng lực dạy học đều tăng lên so với trước khi can thiệp; các giáo viên tiểu học tương lai đáp ứng tốt một số kì vọng về khả năng dạy học trong quá trình thực hành dạy học vi mô môn Lịch sử và Địa lí. Ngoài ra, căn cứ trên kết quả thực nghiệm, nghiên cứu cũng phân tích, đánh giá tác động của dạy học vi mô đến từng phần của năng lực dạy học môn Lịch sử và Địa lí.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,455
Giáo dục đại học Việt Nam cùng với thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ trong bối cảnh của sự Biến động - Không chắc chắn - Phức tạp - Mơ hồ (gọi tắt là VUCA), chuyển đổi số và toàn cầu hóa với sự phát triển ngày càng lớn của khoa học công nghệ. Do đó, đội ngũ giảng viên cần phải không ngừng trau dồi và phát triển năng lực để có thể thích ứng với những thay đổi của quá trình dạy và học nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng được thời kì khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hiện thực hóa khát vọng Việt Nam 2045. Nghiên cứu này nhằm phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên tại một số trường đại học ngoài công lập hiện nay, từ đó đề xuất một số chính sách phát triển đồng bộ dựa trên kinh nghiệm và góc nhìn của một nhà quản lí giáo dục công tác tại trường đại học ngoài công lập, đáp ứng với bối cảnh giáo dục 4.0 hiện nay
Số CIT: 0 Số lượt xem: 863
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, cùng với các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản trong lĩnh vực Thể dục thể thao, tác giả đã lựa chọn được 18 bài tập và 05 test đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nữ vận động viên câu lạc bộ Teakwondo Học viện An ninh Nhân dân. Thông qua ba tháng thực nghiệm sư phạm, các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nữ vận động viên câu lạc bộ Teakwondo Học viện An ninh Nhân dân cho thấy: Nhóm thực nghiệm có kết quả kiểm tra tốt hơn nhóm đối chứng ở ngưỡng thống kê P<0.05. Điều này cho thấy, các bài tập chúng tôi đã lựa chọn bước đầu có tác dụng phát triển sức mạnh tốc độ cho nữ vận động viên câu lạc bộ Teakwondo Học viện An ninh Nhân dân tốt hơn so với các bài tập thường được sử dụng tại Học viện An ninh Nhân dân.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,051
Sinh viên Việt Nam là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một bộ phận sinh viên thiếu lí tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc... Vì vậy, cùng với giáo dục thể chất, văn hóa, giáo dục chuyên môn, nghiệp vụ, giáo dục lí tưởng cách mạng cho sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết, góp phần củng cố niềm tin của sinh viên vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, khơi dậy những khát vọng được cống hiến cho mục tiêu cách mạng của sinh viên Việt Nam - thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng nước nhà. Bài viết tập trung bàn về nội dung giáo dục lí tưởng cách mạng cho sinh viên các trường đại học trong giai đoạn hiện nay.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 942
Nghiên cứu được thực hiện bằng cách khảo sát về tình trạng việc làm của 124 sinh viên học nghề Thú y tại Trường Cao đẳng Nghề Trà Vinh bằng bảng hỏi đã được soạn sẵn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên học nghề Thú y sau khi tốt nghiệp có việc làm ổn định trên 85%; Độ tuổi lao động từ 23-26 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 69,4% và độ tuổi lao động có tỉ lệ thấp nhất là 5% (>30 tuổi). Có 6 yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của sinh viên học nghề Thú y: Tuổi, thu nhập, giới tính, trình độ chuyên môn, vị trí việc làm và tham gia kĩ năng mềm. Bài viết đề xuất một số kiến nghị có liên quan đến chương trình đào tạo, hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo của chương trình để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 942
Thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững số 4 (SDG4) trong Chương trình nghị sự Phát triển bền vững toàn cầu năm 2030: Đảm bảo một nền giáo dục hòa nhập, bình đẳng, chất lượng và cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người trong đó có trẻ khuyết tật là một mục tiêu thách thức trong bối cảnh hiện tại. Trong đó, đảm bảo chương trình và học liệu giáo dục phù hợp, đầy đủ là điều kiện quan trọng góp phần thực hiện tốt mục tiêu nói trên. Bài viết đề cập những bài học từ giáo dục đặc biệt của Hàn Quốc đến một số định hướng phát triển chương trình và học liệu giáo dục cho học sinh khuyết tật Việt Nam.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 5,818
Số phức được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học như khoa học kĩ thuật, điện từ, cơ học lượng tử và toán học ứng dụng, chẳng hạn như trong lí thuyết hỗn loạn. Nhà Toán học người Ý Gerolamo Cardano là người đầu tiên giới thiệu Số phức. Ông đã sử dụng Số phức để giải phương trình bậc ba vào thế kỉ XVI. Để thành công trong Toán học, cần có rất nhiều công cụ để có cơ hội tìm ra công cụ giải quyết các vấn đề bạn gặp phải. Khi lời giải hình học cổ điển trở nên quá phức tạp thì bạn nên nghĩ đến các phương pháp dùng Số phức. Số phức là công cụ mạnh trong việc khảo sát sâu sắc những vấn đề trong hình học, đặc biệt là các bài toán chứng minh. Bằng cách biểu diễn tọa độ của các điểm trong Hình học phẳng thông qua Số phức, có thể biểu diễn các điều kiện của đề bài hình học và các kết luận hình học về dạng các đẳng thức đại số. Như vậy, các bài toán chứng minh Hình học có thể đưa về việc kiểm tra một hằng đẳng thức.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,160
Bài viết phân tích vấn đề sức khỏe tâm thần của 1.317 học sinh tiểu học tại Hà Nội. Phương pháp chính sử dụng là nghiên cứu tài liệu và điều tra bằng bảng hỏi, trong đó, Thang đo Điểm mạnh và Khó khăn - SDQ phiên bản dành cho cha mẹ học sinh được nhóm nghiên cứu lựa chọn. Kết quả điều tra cho thấy, 41% học sinh tiểu học tại Hà Nội có dấu hiệu đang gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần, 29% học sinh ở mức ranh giới lâm sàng. Học sinh tiểu học có dấu hiệu đang gặp các vấn đề khó khăn trong quan hệ bạn bè nhiều hơn cả với 18.3% học sinh ở mức có biểu hiện lâm sàng và 21.9% học sinh ở ranh giới/nguy cơ lâm sàng. Bài viết so sánh kết quả nghiên cứu này với các công bố khoa học trong thời gian gần đây khi sử dụng thang đo SDQ để khảo sát trên đối tượng học sinh. Các yếu tố giới tính và khối lớp cũng được phân tích để chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh tiểu học tại Việt Nam.