[1] Ainscow, M. (2005). Developing inclusive education systems: What are the levers for change? Journal of Educational Change, 6(2), 109–124. https://doi. org/10.1007/s10833-005-1298-4
[2] Ainscow, M., Booth, T., & Dyson, A. (2006). Improving schools, developing inclusion. Routledge. https://doi. org/10.4324/9780203967157
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018a). Thông tư 03/2018/TTBGDĐT về Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018b). Quyết định số 338/QĐBGDĐT ngày 30 tháng 01 năm 2018 về Kế hoạch giáo dục người khuyết tật giai đoạn 2018–2020
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Thông tư số 52/2020/ TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2020 về Điều lệ trường mầm non.
[6] Chính phủ. (2024). Chiến lược Phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quyết định số 1705/ QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2024).
[7] Dư Thống Nhất và Nguyễn Thị Mạnh Tiến. (2025). Tác động của yếu tố quản lí đến kết quả hoạt động trải nghiệm của trẻ mẫu giáo: Nghiên cứu trường hợp tại các trường mầm non tư thục Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Giáo dục, 25(3), 41–46. https:// tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/ article/view/2942/1037
[8] Forlin, C. (2012). Future directions for inclusive teacher education: An international perspective. Routledge.
[9] Fullan, M. (2014). Leading in a culture of change. John Wiley & Sons.
[10] Hinkle, D. E., Wiersma, W., & Jurs, S. G. (2003). Applied statistics for the behavioral sciences (5th ed.). Houghton Mifflin.
[11] Leithwood, K., & Sun, J. (2012). The nature and effects of transformational school leadership: A meta-analytic review of unpublished research. Educational Administration Quarterly, 48(3), 387– 423.
[12] Liên Hợp Quốc. (1989). Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em. NXB Chính trị Quốc gia. (Xuất bản lần đầu năm 1989, bản dịch 2007).
[13] Nguyễn Thị Tuyết Hạnh và Lê Thị Mai Phương. (2015). Quản lí giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục, 11(3), 45–56.
[14] Nguyễn Xuân Hải. (2017). Quản lí giáo dục hòa nhập. NXB Giáo dục Việt Nam.
[15] Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory (3rd ed.). McGraw-Hill.
[16] Phạm Lê Cường và Nguyễn Văn Hưng. (2023). Chính sách giáo dục hòa nhập tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 19(S4), 1–7. http://vjes.vnies. edu.vn/sites/default/files/khgdvn_-_tap_19_-_so_ s4_-1-7.pdf
[17] Phạm Thị Thanh Thủy. (2008). Quản lí giáo dục và quản lí nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục. NXB Giáo dục Việt Nam.
[18] Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 1. (2024). Thống kê nhân sự và học sinh năm học 2024-2025.
[19] Smith, P. (2010). Whatever happened to inclusion? The place of students with intellectual disabilities in education. Peter Lang.
[20] Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. (2024). Tổng kết năm học 2023–2024 và triển khai nhiệm vụ năm học 2024–2025 đối với giáo dục đặc biệt. https://thanhnien.vn/10000-hoc-sinh-hochoa-nhap-thi-gan-8000-em-la-khuyet-tat-tritue-185240925153141416.htm
[21] Trần Thị Hoàng Yến và Nguyễn Thị Thu. (2023). Quản lí can thiệp sớm và giáo dục trẻ khuyết tật trong trường mầm non hòa nhập. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 19(S4), 120–125. http://vjes.vnies. edu.vn/sites/default/files/khgdvn_-_tap_19_-_so_ s4_-120-125.pdf
[22] Trần Thị Minh Thành và Lê Vũ Tường Vy. (2022). Giáo dục hòa nhập ở bậc mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh – thực trạng và viễn cảnh. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Tân Trào, 8(1). https://doi. org/10.51453/2354-1431/2022/726
[23] Trần Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Bắc. (2020). Quản lí hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở trường mầm non tỉnh Quảng Trị. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 4(56)A, 96–105. https://vjol.info.vn/index.php/ TCKH-DHH/article/view/56277
[24] Trương Thị Minh Phượng. (2024). Quản lí giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội [Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2]. https://thanhnien.vn/10000-hoc-sinh-hoc-hoanhap-thi-gan-8000-em-la-khuyet-tat-tri-tue185240925153141416.htm
[25] Quốc hội. (2010). Luật về Người khuyết tật. NXB Tư pháp.
[26] Quốc hội. (2018). Luật Trẻ em (Luật số 14/VBHN-VPQH ngày 29 tháng 6 năm 2018).