PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔ HÌNH HÓA CHO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔ HÌNH HÓA CHO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Nguyễn Thụy Phương Trâm nguyenthuyphuongtramdt@gmail.com Trường Trung học phổ thông Đức Trọng Xã Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
Tóm tắt: 
Bài báo nghiên cứu việc phát triển năng lực mô hình hóa Toán học cho học sinh yếu kém môn Toán trung học phổ thông thông qua phương pháp dạy học tích hợp các bài toán thực tiễn. Quá trình nghiên cứu được thực hiện với 166 học sinh lớp 10 từ hai trường Trung học phổ thông Đức Trọng và Hoàng Hoa Thám trong 15 tuần của học kì II năm học 2023 -2024. Trước và sau can thiệp, học sinh làm bài kiểm tra năng lực mô hình hóa Toán học. Kết quả cho thấy điểm trung bình của học sinh tăng từ khoảng 43% lên 69%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), chứng tỏ năng lực mô hình hóa được cải thiện rõ rệt. Các biểu hiện tích cực về thái độ, sự tự tin và hứng thú học tập cũng được ghi nhận. Bài báo phân tích nguyên nhân khiến học sinh yếu gặp khó khăn khi mô hình hóa, đồng thời đề xuất ba nguyên tắc giảng dạy chính: 1) Xây dựng môi trường học hợp tác, 2) Đa dạng hóa phương pháp giảng dạy dựa trên lí thuyết đa trí tuệ, 3) Cá nhân hóa hỗ trợ học sinh. Ví dụ minh họa về bài toán thiết kế sân vận động hình elip cho thấy cách áp dụng mô hình hóa trong dạy học hiệu quả. Nghiên cứu khẳng định việc phát triển năng lực mô hình hóa Toán học cho học sinh yếu kém là khả thi nếu được tổ chức dạy học đúng cách, góp phần thu hẹp khoảng cách năng lực trong lớp và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Từ khóa: 
mathematical modeling
modeling competency
low-achieving students
high school level
real-world problem solving.
Tham khảo: 

[1] Armstrong, T. (2009). Multiple intelligences in the classroom (3rd ed.). ASCD.

[2] Armutcu, Y., & Bal, A. P. (2023). The effect of mathematical modelling activities on students’ mathematical modelling skills in the context of STEM education. International Journal of Contemporary Educationa Research, 10(1), 53–71. https://doi.org/10.33200/ijcer.1131928

[3] Baruk, S. (1985). L’âge du capitaine. Seuil.

[4] Blum, W., & Ferri, B. R. (2009). Mathematical modelling: Can it be taught and learnt? Journal of Mathematical Modelling and Application, 1(1), 45–58.

[5] Blum, W., & Leiß, D. (2007). How do students and teachers deal with modelling problems? In C. Haines, P. Galbraith, W. Blum, & S. Khan (Eds.), Mathematical modelling: Education, engineering and economics (pp.222–231). Horwood Publishing.

[6] Ceylan, Ö., & Karahan, E. (2021). STEM odaklı matematik uygulamalarının 11. sınıf öğrencilerinin matematik tutum ve bilgileri üzerine etkisi [The effect of STEM-focused math practices on 11th grade students’ math attitudes and knowledge]. Anadolu Journal of Educational Sciences International, 11(2), 660–683. https://doi. org/10.18039/ajesi.793601

[7] Chan, J. C. (2013). The role of social media in crisis preparedness, response, and recovery. Vanguard, RAHS Think Centre.

[8] Gardner, H. (1983). Frames of mind: The theory of multiple intelligences. Basic Books.

[9] Grove, M., Croft, T., & Lawson, D. (2020). The extent and uptake of mathematics support in higher education: results from the 2018 survey. Teaching Mathematics and Its Applications: An International Journal of the IMA, 39(2), 86–104. https://doi. org/10.1093/teamat/hrz009

[10] National Research Council. (2001). Adding It Up: Helping Children Learn Mathematics. Washington, DC: The National Academies Press. https://doi. org/10.17226/9822.

[11] Nguyễn Danh Nam. (2015). Phương pháp mô hình hóa trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông. NXB Đại học Thái Nguyên.

[12] Nguyễn Danh Nam. (2016). Năng lực mô hình hóa Toán học của học sinh phổ thông. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 60(8), 44–52.

[13] Nguyễn Thụy Phương Trâm. (2019). Giúp đỡ học sinh yếu kém trong dạy học môn Toán lớp 10 Trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

[14] OECD. (2007). PISA 2006: Science competencies for tomorrow’s world (Vol. 1 - Analysis). OECD Publishing.

[15] Sakinah, A. R., Hiltrimartin, C., Hartono, Y., & Indaryanti, I. (2020). High school students’ mathematical modeling skills in problem-based learning (PBL). Journal of Physics: Conference Series, 1480(1), 012041. https://doi.org/10.1088/1742- 6596/1480/1/012041

[16] Singh, K., Granville, M., & Dika, S. (2002). Mathematics and science achievement: Effects of motivation, interest, and academic engagement. The Journal of Educational Research, 95(6), 323–332. https://doi. org/10.1080/00220670209596607

[17] Siller, H.-St., & Greefrath, G. (2010). Mathematical modelling in class regarding technology. Trong V. Durand-Guerrier, S. Soury-Lavergne, & F. Arzarello (Eds.), Proceedings of CERME 6 (pp. 2056– 2065). Lyon, France. URL: https://uni-salzburg. elsevierpure.com/en/publications/mathematicalmodelling-in-class-regarding-to-technology

[18] Tharp, R. G., & Gallimore, R. (1988). Rousing minds to life: Teaching, learning, and schooling in social context. Cambridge University Press.

[19] Vygotsky, L. S. (1978). Mind in society: The development of higher psychological processes. Harvard University Press.

[20] Wei, Y., Zhang, Q., & Guo, J. (2022). Can mathematical modelling be taught and learned in primary mathematics classrooms? A systematic review of empirical studies. Education Sciences, 12(12), 923. https://doi.org/10.3390/educsci12120923

[21] Zulnaidi, H., & Zamri, S. N. A. S. (2017). The effectiveness of the GeoGebra software: The intermediary role of procedural knowledge on students’ conceptual knowledge and their achievement in mathematics. Eurasia Journal of Mathematics, Science and Technology Education, 13(6), 1993-2004. https://doi. org/10.12973/eurasia.2017.01209a

Bài viết cùng số