NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC TRONG MÔI TRƯỜNG SỐ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC: KIỂM ĐỊNH THANG ĐO VÀ ĐỐI CHIẾU GIỮA TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA HỌC SINH VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN

NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC TRONG MÔI TRƯỜNG SỐ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC: KIỂM ĐỊNH THANG ĐO VÀ ĐỐI CHIẾU GIỮA TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA HỌC SINH VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN

Cao Hồng Huệ caohonghue@hpu2.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 32 Nguyễn Văn Linh, phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam
Đào Thái Lai daothailai2015@gmail.com Hội khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam, 106 Trần Hưng Đạo, Phường Cửa Nam, Hà Nội, Việt Nam
Nguyễn Thị Thanh Huyền* ntthuyen@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thủy, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Trong bối cảnh Khung năng lực số quốc gia đã được ban hành, việc cụ thể hóa và kiểm định công cụ đo lường phù hợp với học sinh tiểu học vẫn còn hạn chế, đặc biệt đối với năng lực giao tiếp và hợp tác trong môi trường số. Nghiên cứu nhằm làm rõ cấu trúc đa thành phần của năng lực này thông qua kiểm định thang đo dựa trên Khung năng lực số quốc gia và khảo sát mức độ tự đánh giá các biểu hiện ở học sinh tiểu học. Nghiên cứu sử dụng thiết kế định lượng cắt ngang với bảng hỏi gồm sáu thành phần. Dữ liệu được thu thập từ 4403 học sinh và 918 giáo viên. Phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định cho thấy mô hình sáu thành phần có độ phù hợp tốt. Kết quả cho thấy, học sinh tự đánh giá các biểu hiện ở mức trung bình khá; các thành phần liên quan đến quy tắc ứng xử trên môi trường số, quản lí sự hiện diện và danh tính số cao hơn, trong khi chia sẻ thông tin và nội dung số thấp hơn; giáo viên có xu hướng đánh giá thấp hơn học sinh ở hầu hết các thành phần. Kết quả đồng thời cung cấp cơ sở cho việc hoàn thiện công cụ đánh giá và thiết kế hoạt động dạy học.
Từ khóa: 
Năng lực giao tiếp và hợp tác trong môi trường số
học sinh tiểu học
Năng lực số
kiểm định thang đo
phân tích nhân tố.
Tham khảo: 

[1] Aesaert, K. & van Braak, J. (2015). Gender and socioeconomic related differences in performance based ICT competences. Computers & Education, 84, pp.8–25. https://doi.org/10.1016/j. compedu.2014.12.017

[2] Borgers, N., de Leeuw, E. & Hox, J. (2000). Children as respondents in survey research: Cognitive development and response quality. Bulletin of Sociological Methodology, 66(1), pp.60–75. https:// doi.org/10.1177/075910630006600106

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025). Thông tư 02/2025/TT BGDĐT quy định Khung năng lực số cho người học.

[4] Cao Hồng Huệ, Đào Thái Lai, Nguyễn Thị Thanh Huyền & Trần Thị Thanh. (2025). Xây dựng khung năng lực giao tiếp và hợp tác thuộc khung năng lực số của học sinh tiểu học trong dạy học Tin học. Tạp chí Giáo dục, 25(19), pp.41–46.

[5] Carretero, S., Vuorikari, R. & Punie, Y. (2017). DigComp 2.1: The Digital Competence Framework for Citizens with eight proficiency levels and examples of use. Publications Office of the European Union. https:// publications.jrc.ec.europa.eu/repository/handle/ JRC106281

[6] Đặng Thị Phương & Bùi Thị Thao. (2025). Thực trạng phát triển năng lực số cho học sinh trung học cơ sở ở Việt Nam: Góc nhìn từ cán bộ quản lí. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 21(9), tr.52–60.

[7] Fornell, C. & Larcker, D. F. (1981). Evaluating Structural Equation Models with Unobservable Variables and Measurement Error. Journal of Marketing Research, 18(1), pp.39–50. https://doi.org/10.2307/3151312

[8] Fraillon, J. (Ed.). (2023). An International Perspective on Digital Literacy: Results from ICILS 2023. International Association for the Evaluation of Educational Achievement (IEA). https://www. iea.nl/sites/default/files/2025-03/ICILS_2023_ International_Report.pdf

[9] Godaert, E., Aesaert, K., Voogt, J. & van Braak, J. (2022). Assessment of students’ digital competences in primary school: a systematic review. Education and Information Technologies, 27(7), pp.9953–10011. https://doi.org/10.1007/s10639-022-11020-9

[10] Henseler, J., Ringle, C. M. & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the Academy of Marketing Science, 43(1), pp.115–135. https://doi.org/10.1007/s11747-014 0403-8

[11] Ilomäki, L., Paavola, S., Lakkala, M. & Kantosalo, A. (2016). Digital competence – an emergent boundary concept for policy and educational research. Education and Information Technologies, 21(3), pp.655–679. https://doi.org/10.1007/s10639 014-9346-4

[12] Jin, K.-Y., Reichert, F., Cagasan, L. P., de la Torre, J. & Law, N. (2020). Measuring digital literacy across three age cohorts: Exploring test dimensionality and performance differences. Computers & Education, 157, 103968. https://doi.org/10.1016/j. compedu.2020.103968

[13] Lê Anh Vinh, Bùi Diệu Quỳnh, Đỗ Đức Lân, Đào Thái Lai & Tạ Ngọc Trí. (2021). Xây dựng khung năng lực số cho học sinh phổ thông Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, tr.1-11.

[14] Mellor, D. & Moore, K. A. (2014). The use of Likert scales with children. Journal of Pediatric Psychology, 39(3), pp.369–379. https://doi.org/10.1093/jpepsy/ jst079

[15] Nguyễn Thị Thu Hằng, Ngô Văn Định, Nguyễn Trường Giang, Hứa Thị Toàn & Trịnh Thị Phương Thảo. (2024). Thực trạng năng lực số của học sinh trung học phổ thông: Nghiên cứu trường hợp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí Giáo dục, 24(8), tr.286–291.

[16] Pedaste, M., Kallas, K. & Baucal, A. (2023). Digital competence test for learning in schools: Development of items and scales. Computers & Education, 203, 104830. https://doi.org/10.1016/j. compedu.2023.104830

[17] Porat, E., Blau, I. & Barak, A. (2018). Measuring digital literacies: Junior high-school students’ perceived competencies versus actual performance. Computers & Education, 126, pp.23–36. https://doi. org/10.1016/j.compedu.2018.06.030

[18] Von der Embse, N., Kim, E. S., Kilgus, S., Dedrick, R. & Sanchez, A. (2019). Multi-informant universal screening: Evaluation of rater, item, and construct variance using a trifactor model. Journal of School Psychology, 77, pp.52–66. https://doi.org/10.1016/j. jsp.2019.09.005

[19] Vuorikari, R., Kluzer, S. & Punie, Y. (2022). DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens - With new examples of knowledge, skills, and attitudes (Number KJ-NA-31006-EN-N (online), KJ-NA 31006-EN-C (print)). Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2760/115376.

Bài viết cùng số