Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,024
Bài viết phân tích nhận định của 316 đối tượng khảo sát đến từ các trường đại học, học viện và viện nghiên cứu trên 24 tỉnh/thành phố thông qua phiếu trưng cầu ý kiến được thiết kế dưới dạng google form về việc đưa ra các nhận định về mức độ ảnh hưởng của 16 yếu tố đến sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kết quả phân tích cho thấy, mẫu khảo sát đa dạng, mang tính đại diện cho các quan điểm đến từ các cơ quan, vị trí công tác khác nhau trong lĩnh vực giáo dục trên khắp cả nước. Thông qua khảo sát cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam là: 1/ Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam; 2/ Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; 3/ Cách mạng công nghiệp 4.0; 4/ Xu thế phát triển giáo dục đào tạo trên thế giới; 5/ Nguồn nhân lực phục vụ nghiên cứu khoa học giáo dục. Các yếu tố ảnh hưởng thấp nhất đến sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam là: 1/ Quan hệ, hợp tác nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức quốc tế; 2/ Trào lưu các nghề trong xã hội; 3/ Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học giáo dục.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,238
Quốc tế hóa và khu vực hóa là xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới hiện nay. Việt Nam và Trung Quốc có vị trí địa lí gần gũi, quan hệ thương mại khăng khít, văn hóa - giáo dục tương đồng. Những yếu tố này là lợi thế để hai quốc gia tiến hành hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc thực thi “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI). Để thúc đẩy hợp tác toàn diện về giáo dục đại học trong bối cảnh mới, hai quốc gia cần nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hợp tác trên cơ sở đánh giá thực trạng hợp tác trước đây. Bài viết mô tả chính sách giáo dục của Trung Quốc trong khuôn khổ BRI, thực trạng hợp tác giáo dục đại học Việt - Trung trước khi Việt Nam tham gia vào BRI, từ đó đề xuất một số kiến nghị về hợp tác giáo dục đại học của hai quốc gia trong tương lai.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,809
Hiện nay, nội dung giáo dục địa phương cấp Trung học phổ thông đã và đang được triển khai tổ chức thực hiện tại các nhà trường. Năm học 2022 - 2023 tổ chức dạy học tài liệu giáo dục địa phương lớp 10. Để nắm bắt được những khó khăn, thuận lợi trong quá trình triển khai, nghiên cứu đã khảo sát 1542 cán bộ quản lí và giáo viên dạy học tài liệu giáo dục địa phương lớp 10 ở 10 tỉnh/thành phố về các nội dung: tập huấn sử dụng tài liệu, phân công giáo viên dạy học nội dung giáo dục địa phương, xây dựng kế hoạch giáo dục và phương thức tổ chức dạy học, hình thức và hiệu quả sử dụng tài liệu, các điều kiện đảm bảo để triển khai tài liệu. Kết quả khảo sát cho thấy, tuy đã có những kết quả thuận lợi ban đầu nhưng vẫn còn những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện. Nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp để hỗ trợ các nhà trường thực hiện tốt nội dung giáo dục địa phương ở những năm học tiếp theo.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,732
Ngày 04 tháng 11 năm 2013, tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng đã ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo”. Sau 10 năm triển khai Nghị quyết 29/NQ-TW của Đảng, giáo dục Việt Nam đã có những đổi thay to lớn trên nhiều phương diện. Trong đó, lĩnh vực kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục đã có những bước đột phá mang tính cách mạng, góp phần không nhỏ vào thành công chung của công cuộc đổi mới giáo dục giai đoạn hiện nay. Bài viết này là một phần trong kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học “Khảo sát và nghiên cứu về đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”. Nội dung bài viết tập trung vào các vấn đề chính sau: 1) Xem xét những thay đổi về chính sách kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông từ sau Nghị quyết 29/NQ-TW; 2) Đánh giá ưu điểm và tồn tại của những chính sách về kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông 10 năm qua.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,953
Bài viết trình bày tổng quan kết quả nghiên cứu về phát triển năng lực quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ trên thế giới và Việt Nam, từ đó đề xuất định hướng nghiên cứu và ứng dụng trong đào tạo giáo viên mầm non ở Việt Nam. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để phân tích, tổng hợp, khái quát các tài liệu dưới dạng sách, báo khoa học từ các cơ sở dữ liệu thông dụng. Hai hướng nghiên cứu về phát triển năng lực quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ được xác định gồm: 1) Năng lực quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ; 2) Phát triển năng lực quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non. Nghiên cứu cũng xác định khoảng trống và đưa ra khuyến nghị về các định hướng nghiên cứu tiềm năng về chủ đề này trong các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,428
Chuyển đổi số là quá trình tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Chuyển đổi số diễn ra ở tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các cơ sở giáo dục đại học - nơi cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao không thể đứng ngoài hay chậm trễ. Trong bài viết, tác giả khái lược những vấn đề cơ bản nhất của chuyển đổi số trong giáo dục, đi từ những khái niệm cơ bản nhất đến những vấn đề đã và đang được quan tâm nghiên cứu.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,614
Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự xuất hiện của các phần mềm tiên tiến, ứng dụng học tập, dạy học kết hợp ở bậc học phổ thông ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và Việt Nam không nằm ngoài xu thế trên. Để áp dụng hiệu quả mô hình dạy học kết hợp, việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy hợp lí và kĩ càng hơn đóng vai trò rất quan trọng. Kế hoạch bài dạy trong dạy học kết hợp giúp đảm bảo sự hiệu quả và tổ chức hợp lí của quá trình học, đồng thời tận dụng tốt những lợi ích của cả hai hình thức dạy học. Bài viết trình bày một số kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và triển khai kế hoạch bài dạy trong dạy học kết hợp, từ đó đề xuất quy trình xây dựng và khung kế hoạch bài dạy trong dạy học kết hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các giờ dạy học kết hợp ở Việt Nam.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,240
Nghiên cứu chỉ ra rằng, cùng với sự phát triển của dân số, số trẻ khuyết tật cũng có xu hướng tăng. Nhu cầu trẻ khuyết tật cần được tiếp cận giáo dục có chất lượng ở khắp các địa phương trong cả nước, cùng với xu thế phát triển giáo dục chuyên biệt trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, tỉ lệ đến trường của trẻ khuyết tật còn thấp, mạng lưới cơ sở giáo dục chuyên biệt chưa phát triển rộng khắp, tỉ lệ giáo viên được đào tạo chuyên ngành thấp và cơ sở vật chất phục vu giảng dạy còn hạn chế. Vì vậy, cần thiết phải phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục chuyên biệt ở Việt Nam, đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ khuyết tật trên mọi miền của Tổ quốc trên cơ sở tận dụng nguồn lực sẵn có trong hệ thống giáo dục đào tạo, huy động được các nguồn lực xã hội cùng tham gia thực hiện giáo dục người khuyết tật.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,492
Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai hoạt động có mối quan hệ gắn bó, hai nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên. Thông tư số 15/2017/TTBGDĐT ngày 09 tháng 6 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi bổ sung một số chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông đã đặc biệt chú trọng hoạt động nghiên cứu khoa học của giáo viên. Theo đó, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục và là tiền đề quan trọng để nền giáo dục thực sự trở thành động lực góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đây chính là ẩn số của bài toán phát triển, đòi hỏi chúng ta cần sớm tìm lời giải để khắc phục những bất cập, hạn chế đang tồn tại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giáo viên tiểu học ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long - một trong những vấn đề có tính quyết định cho tiến trình thực hiện đổi mới Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,808
Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 đặt ra những yêu cầu mới đối với việc dạy và học viết trong nhà trường phổ thông. Theo quan điểm phát triển năng lực người học, việc dạy viết phải đổi mới trên nhiều bình diện, từ nhận thức đến thực tiễn dạy học. Tuy nhiên, những yêu cầu của Chương trình Ngữ văn quốc gia còn mang tính khái quát, cần có thêm những phân giải cụ thể để giúp giáo viên hiểu đúng về tư tưởng mới của chương trình, từ đó thực hiện tốt các yêu cầu đổi mới. Nghiên cứu này tập trung trình bày những phân tích lí luận về mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp dạy học viết theo yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực của Chương trình Ngữ văn 2018, tạo tiền đề cho những cải tiến về quy trình, phương pháp và kĩ thuật dạy học viết trong trường trung học trong giai đoạn đổi mới hiện nay và các năm tiếp theo.