Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,037
Nghiên cứu này có mục đích đo độ chuẩn xác của công cụ sửa lỗi tự động Merci App, phiên bản miễn phí dùng trong dạy viết tiếng Pháp. Dữ liệu nghiên cứu là 30 bài viết trình độ B2 của 30 sinh viên năm hai ngành Ngôn ngữ Pháp. Kết quả cho thấy, số lỗi Merci App nhặt chuẩn xác là 82,7% tính trên tổng số lỗi ứng dụng phát hiện ra và giảm xuống 45,3% tính trên tổng số lỗi cấp độ thấp xuất hiện trong bài. Số lỗi Merci App nhặt đúng, phân tích và đề xuất sửa đúng là 63,4% tính trên tổng số lỗi ứng dụng phát hiện ra, tỉ lệ này giảm xuống còn 34,7% tính trên tổng số lỗi cấp độ thấp trong bài. Ứng dụng thường nhặt sai các lỗi về hợp giống số trong một cụm danh từ; không nhặt được nhiều lỗi diễn đạt, từ vựng, hợp giống số, giới từ; phân tích và đề xuất sửa sai các lỗi từ vựng, động từ và hợp giống số. Chúng tôi đề xuất cần hướng dẫn người học sử dụng công cụ sửa lỗi tự động, cung cấp từ vựng siêu ngôn ngữ để các em hiểu được phân tích lỗi và sửa lỗi trong Merci App nhưng giảng viên vẫn cần tập trung sửa lỗi ở cấp độ cao và các lỗi cấp độ thấp mà ứng dụng không nhặt được, nhặt sai, phân tích sai, sửa sai.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,125
Giáo dục hòa nhập đã được đưa thành các Mục tiêu phát triển bền vững tại Hội nghị thưởng đỉnh phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. Người khuyết tật có quyền được tiếp cận một nền giáo dục bình đẳng, có chất lượng và cơ hội học tập suốt đời. Ở Việt Nam, giáo dục hòa nhập không còn là khái niệm mới và nó cũng đã được chấp nhận như một sự phát triển tất yếu. Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam đã được hình thành dựa trên các nguyên tắc chung của quốc tế có điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Bài viết phân tích tác động cũng như những khoảng cách giữa chính sách giáo dục hòa nhập với thực tiễn, từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với các cấp, ngành có liên quan nhằm tạo ra một môi trường chính sách thúc đẩy giáo dục hòa nhập.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 743
Rối loạn phổ tự kỉ là một dạng rối loạn phát triển tồn tại suốt cuộc đời của con người. Thống kê gần đây cho thấy tỉ lệ trẻ rối loạn phổ tự kỉ có xu hướng ngày càng tăng ở trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Vì vậy, rất cần sự hỗ trợ của mọi người ở các lĩnh vực khác nhau và nhất là sự tham gia hỗ trợ của ngành Công tác xã hội, đặc biệt là sau biến cố. Bài viết tập trung đi vào tìm hiểu một số khía cạnh cơ bản về công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ trị liệu cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ phục hồi sau biến cố. Làm rõ các hoạt động hỗ trợ trị liệu cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ như hoạt động tham vấn, hoạt động giáo dục, hoạt động kết nối nguồn lực.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 878
Bài viết đã đề cập đến những vấn đề chung về quản lí can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật bậc học Mầm non. Tác giả bài viết đề xuất 6 biện pháp quản lí chất lượng can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trí tuệ trong trường mầm non, bao gồm: 1) Nâng cao nhận thức, 2) Xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch, 3) Tổ chức chỉ đạo thực hiện, 4) Đổi mới kiểm tra đánh giá, 5) Đào tạo nhân lực, 6) Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp cho trẻ khuyết tật trí tuệ.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,292
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã xác định rõ các mục tiêu giáo dục về phẩm chất và năng lực đối với học sinh phổ thông. Mỗi phẩm chất và năng lực có những yêu cầu cần đạt đặc thù với từng cấp học. Trong quá trình kiểm tra đánh giá, giáo viên cần đánh giá được mức độ học sinh đạt được yêu cầu cần đạt của từng phẩm chất và từng năng lực cũng như cần xác định được học sinh đang ở vị trí nào trên đường phát triển năng lực, đã sẵn sàng tiếp nhận những tác động giáo dục tiếp theo hay chưa. Tuy nhiên, đường phát triển năng lực không có sẵn mà giáo viên cần phải thiết kế. Với đường phát triển năng lực đã thiết kế, giáo viên có thể đánh giá được mức độ phát triển năng lực của học sinh theo yêu cầu cần đạt của mỗi năng lực. Bài viết hướng dẫn giáo viên thiết kế đường phát triển năng lực thông qua thiết kế đường phát triển năng lực Giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh tiểu học.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,119
Rối loạn ngôn ngữ phát triển (Developmental Language Disorder) (Bishop và cộng sự, 2017), là thuật ngữ xuất hiện trong các nghiên cứu trên thế giới để chỉ những trẻ có khả năng giao tiếp hạn chế, vốn từ vựng nghèo nàn, các câu nói ít đa dạng và không đủ thành phần. Khó khăn về ngôn ngữ của trẻ rối loạn ngôn ngữ phát triển thường gây hậu quả nặng nề ở lứa tuổi mầm non và đầu tiểu học. Thực tiễn về sự ảnh hưởng lâu dài của rối loạn ngôn ngữ phát triển cho thấy tầm quan trọng về can thiệp ngôn ngữ trong quá trình phát triển của trẻ không chỉ là những định hướng ngắn hạn mà cần có những mục tiêu dài hạn để kịp thời nhìn nhận và có những ưu tiên trong từng giai đoạn. Trong 26 bài báo, chúng tôi đã tìm kiếm được 14 tài liệu phù hợp tiêu chí. Kết quả phân tích cho thấy, có 4 nhóm can thiệp rối loạn ngôn ngữ phát triển bao gồm: Can thiệp từ vựng, ngữ pháp, lời kể và âm vị. Các can thiệp này không thể thiếu trong các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ. Chúng được lồng ghép hài hòa trong quá trình can thiệp
Số CIT: 0 Số lượt xem: 958
Rối loạn phổ tự kỉ đang là một trong những dạng khuyết tật phổ biến ở các nước trên thế giới và Việt Nam. Những khó khăn trong giao tiếp xã hội, các mối quan hệ bạn bè, khả năng khó thích ứng với sự thay đổi khiến việc chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học trở nên đặc biệt đáng lo ngại đối với trẻ rối loạn phổ tự kỉ và cha mẹ của trẻ. Bài viết này trình bày khung chương trình tiền học đường nhằm giúp trẻ rối loạn phổ tự kỉ được chuẩn bị sẵn sàng về tâm thế, các kĩ năng học đường và kĩ năng tiền học tập cơ bản trước khi các em vào lớp Một.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 888
Đối mặt với các cuộc khủng hoảng hiện nay trong giáo dục, nhiều cải cách đã được đề xuất và thử nghiệm nhưng không phải lúc nào cũng thành công. Một trong những lí do cho sự kém hiệu quả nằm ở cách tiếp cận. Trong một thời gian dài, chúng ta hầu như chỉ dựa vào thế giới quan khoa học duy vật trong việc giải quyết vấn đề, nhưng điều đó là không đủ. Thực tiễn cho thấy rằng, cần phải thêm một cách tiếp cận khác, không mới nhưng chúng ta quên hoặc không muốn đối mặt: Quan điểm khoa học tinh thần về con người trong giáo dục. Một trong những người đề xuất phương pháp này là Rudofl Steiner Joseph Lorenz (1861-1925), một triết gia, nhà tư tưởng xã hội, kiến trúc sư và nhà tâm linh học người Áo. Hiểu được quan điểm của ông về Nhân học, đặc biệt là khái niệm “Tâm linh” trong tác phẩm Nền tảng tinh thần trong giáo dục (1922) sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về cách tiếp cận này trong giáo dục, từ đó có thái độ tích cực hơn để giải quyết các vấn đề trong giáo dục Việt Nam hiện nay. Mô hình Vườn ươm Live Village là một dự án mang tính thử nghiệm hướng vào đối tượng trẻ tự kỉ tuổi lớn (6 - 15 tuổi). Bên cạnh các phương pháp mang tính chuyên môn của giáo dục đặc biệt, mô hình vận dụng quan điểm giáo dục của Rudofl Steiner đặt trọng tâm vào việc xây dựng không gian, môi trường giúp trẻ “được là chính mình”.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,311
Trong môi trường cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện nay, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao là rất lớn, không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động nội địa mà còn xuất khẩu, đồng thời chuẩn bị lực lượng lao động để đón nguồn vốn FDI dịch chuyển [1],[2]. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các ngành nói chung và lĩnh vực Kinh tế nói riêng ở Việt Nam có cả những tiềm năng và thách thức đan xen. Về thuận lợi, chương trình chất lượng cao đã có những bước tiến đáng kể với việc bổ sung, nâng cấp cơ sở vật chất và cải thiện chất lượng giảng dạy. Qua đó, nước ta cung cấp một nguồn nhân lực dồi dào để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tiếp cận thêm các chương trình từ các tổ chức uy tín trên thế giới. Bên cạnh đó, còn tồn tại những khó khăn không thể tránh khỏi như chất lượng giảng viên chưa đồng đều, học phí chưa tương xứng với chất lượng, chiến lược phát triển trong tương lại còn chưa thống nhất, nhất là trong điều kiện Bộ Giáo dục và Đào tạo bỏ quy định đào tạo chất lượng cao. Để vượt qua những thách thức này, cần tiếp tục cải thiện chất lượng đào tạo, tối ưu hóa chi phí để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và người sử dụng lao động.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,902
Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích từ các tài liệu quốc tế và trong nước về các thách thức mà sinh viên, giảng viên và nhà trường phải đối mặt khi xây dựng một môi trường học tập tích cực trong trường đại học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên gặp khó khăn chủ yếu là ở sự đa dạng văn hóa, áp lực học tập và cạnh tranh cũng như trong việc quản lí thời gian và tự quản lí học tập. Trong khi đó, giảng viên đối diện với thách thức của việc quản lí sự đa dạng của sinh viên, áp lực nâng cao chất lượng giảng dạy và thích ứng với công nghệ mới. Các nhà trường phải đảm bảo sự đa dạng và phong phú trong các hoạt động giáo dục, tạo ra một môi trường học tập cởi mở, thân thiện và thúc đẩy việc áp dụng công nghệ mới trong giáo dục. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số chiến lược để nhà trường tạo ra môi trường học tập tích cực, bao gồm tạo điều kiện học tập linh hoạt, tăng cường hỗ trợ học thuật và khuyến khích sự tham gia của sinh viên.