Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,448
Trong nhiều lĩnh vực, khái niệm mô hình và mô hình hóa được giải thích rất khác nhau. Nhìn chung, từ một góc độ nhất định thì khái niệm mô hình thường được giải thích không đầy đủ, thậm chí có một số cách hiểu sai. Mô hình và mô hình hóa có thể áp dụng được rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục, nhất là nghiên cứu dạy học, kinh tế học giáo dục, quản lí giáo dục, giáo dục so sánh, xã hội học giáo dục và tâm lí học giáo dục. Vì vậy, trong đào tạo năng lực nghiên cứu và đào tạo sau đại học cần phải chú ý hơn việc dạy mô hình hóa và nâng cao nhận thức lí luận về mô hình. Bài viết phân tích bản chất của mô hình và nguyên tắc, thủ tục mô hình hóa trong nghiên cứu giáo dục với những mô tả cụ thể hơn.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 945
Học sinh dự bị đại học chủ yếu là đối tượng dân tộc thiểu số, sinh sống ở các tỉnh vùng núi, sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có nhiều học sinh phát âm chưa chuẩn tiếng phổ thông. Tuy nhiên, ngôn ngữ lại là chìa khóa để tiếp cận và mở rộng tri thức, trao đổi tri thức giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh để mở rộng hiểu biết và học hỏi lẫn nhau. Ngôn ngữ toán học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Toán cho học sinh dự bị đại học. Trong bài viết này, tác giả trình bày một số biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ toán học cho học sinh dự bị đại học. Qua đó giúp học sinh phát triển tư duy logic, khả năng lập luận cũng như năng lực trình bày các vấn đề toán học. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cũng như chất lượng đào tạo dự bị đại học
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,162
Bồi dưỡng phát triển nhân lực theo năng lực thực hiện là xu hướng khoa học. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông là lực lượng đông đảo cần được bồi dưỡng phát triển năng lực để thực thi tốt các nhiệm vụ điều hành nhà trường trong bối cảnh đổi mới. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông là người đứng đầu nhà trường có vai trò quan trọng nhất trong quá trình thiết lập những định hướng, tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục học sinh, quản lí và thúc đẩy các hoạt động khác tạo sự thành công cho trường học. Bài viết đề cập khung năng lực của hiệu trưởng trường trung học phổ thông được xác định trên cơ sở lí luận và thực tiễn gắn với nhiệm vụ, vai trò, chức năng của hiệu trưởng trường trung học phổ thông hiện nay. Khung năng lực này sẽ là cơ sở để hoàn thiện chuẩn hiệu trưởng, phát triển chương trình bồi dưỡng, lựa chọn bổ nhiệm và đánh giá hiệu trưởng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,307
Để khẳng định giá trị của một khóa đào tạo, chúng ta cần xem xét ở nhiều phương diện khác nhau như hiệu quả, hiệu suất, tính kinh tế và sự phù hợp của nó. Tuy nhiên, hiệu quả đào tạo luôn là tiêu chí quan trọng nhất để khẳng định giá trị thực sự của khóa đào tạo. Mô hình đánh giá 4 cấp độ của Donald Kirkpatrick sẽ góp phần cung cấp những thông tin, dữ liệu hữu ích, đánh giá hiệu quả, đồng thời là cơ sở để xem xét các phương diện khác của khóa đào tạo. Bài viết trình bày các nguyên tắc, phương diện và các cấp độ đánh giá khóa đào tạo theo mô hình Donald Kirkpatrick, bao gồm: Phản ứng, kết quả học tập, hành vi và kết quả.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 668
Việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong đối với các trường đại học ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần ưu tiên thực hiện trong bối cảnh hiện nay. Để nâng cao và cải tiến chất lượng giáo dục, các trường đại học cần thiết lập hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhằm giám sát, đánh giá việc thực hiện các hoạt động. Tuy nhiên, để công tác đảm bảo chất lượng trở thành hoạt động tự thân đối với mỗi đơn vị và hướng đến hình thành văn hóa chất lượng, các trường đại học phải có sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các thành viên đối với đơn vị chuyên trách trong toàn trường. Đồng thời, các trường cần chủ động kiểm soát chất lượng của đơn vị, nâng cao năng lực của những cán bộ thực hiện công tác đảm bảo chất lượng và giảng viên tham gia giảng dạy trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng phát triển.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 793
Tổ chức thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục chính là đưa các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ và giải pháp trong Nghị quyết Số 29 vào cuộc sống. Mặc dù đã có chương trình hành động của Chính phủ và Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục, nhưng do thiếu một kế hoạch tổng thể trong tổ chức thực hiện cho nên ngành Giáo dục hiện đang đứng trước một yêu cầu quá tải các công việc phải giải quyết. Việc lựa chọn các mục tiêu ưu tiên và khâu đột phá là hết sức cần thiết. Bài viết đề cập đến các mục tiêu ưu tiên xuất phát từ việc công nhận các yếu tố nền tảng của bất kì nền giáo dục thành công nào. Trên cơ sở đó, nhận dạng các khâu đột phá với tư cách là nhóm các giải pháp nhằm một mặt tháo gỡ các nút thắt của giáo dục nước ta, mặt khác hướng tới thực hiện các mục tiêu ưu tiên.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,278
Bài viết giới thiệu Chương trình 2030 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development - OECD). Dựa trên các cuộc thảo luận về ưu tiên chính sách của nhiều quốc gia, OECD nhằm xác định năng lực và khung học tập cho năm 2030 trong Hội nghị tham vấn lần thứ 4 của OECD về chương trình 2030, thông qua việc rà soát các nghiên cứu liên quan đến chương trình này. Bài viết nhằm mục đích: 1/ Giới thiệu chương trình của OECD trong việc rà soát, xác định và lựa chọn lại các năng lực có liên quan hướng đến năm 2030. Các năng lực này phải phù hợp, nhằm đóng góp để xây dựng một thế giới cân bằng. Theo OECD, những gì được coi là cần thiết hoặc có liên quan cho năm 2030 không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu trong tương lai mà còn phụ thuộc vào nguyện vọng của xã hội, trong đó tâm điểm là những định hướng đổi mới giáo dục; 2/ Tìm hiểu Sáng kiến vì cuộc sống tốt đẹp hơn của OECD, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục với những thay đổi trong tương lai. Câu hỏi đặt ra cho các quốc gia là làm thế nào để hệ thống giáo dục có thể giúp học sinh phát triển năng lực hướng đến tương lai tốt hơn cho chính họ và cho phúc lợi chung của toàn xã hội cũng như để ứng phó, tự điều chỉnh với những thay đổi trong tương lai; 3/ Tìm hiểu các nghiên cứu tiếp theo của OECD dựa trên việc thống nhất cơ sở lí thuyết chung về “khung học tập” và qua các kết quả nghiên cứu ban đầu.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 919
Liên kết đào tạo giữa các trường cao đẳng kĩ thuật và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tốt hơn vấn đề cung - cầu nhân lực kĩ thuật cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần giảm lãng phí cho người học và cho xã hội, nâng cao lợi tức đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật, giảm tỉ lệ thất nghiệp, đạt mục tiêu đề ra trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của Nhà nước, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tác giả đề xuất một số giải pháp quản lí hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường cao đẳng kĩ thuật và doanh nghiệp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,164
Chất lượng đào tạo thạc sĩ Quản lí giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến luận văn thạc sĩ. Kĩ năng nghiên cứu khoa học ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện luận văn của học viên. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ năng nghiên cứu khoa học của học viên trong việc thực hiện luận văn thạc sĩ Quản lí giáo dục tại Trường Đại học Sài Gòn, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao kĩ năng nghiên cứu khoa học cho học viên cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục tại Trường Đại học Sài Gòn và các trường đại học khác có điều kiện tương tự, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ Quản lí giáo dục hiện nay.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 864
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục phổ thông trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục cũng như việc hoàn thiện các mục tiêu của Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, bài viết tập trung phân tích thực trạng số lượng, chất lượng và năng lực các trường sư phạm; thực trạng số lượng, chất lượng và năng lực đội ngũ nhà giáo và công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục phổ thông hiện nay. Từ đó, những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể được đưa ra nhằm đáp ứng yêu cầu mới, khắc phục những tồn tại, bất cập về năng lực của các trường sư phạm, đội ngũ giảng viên sư phạm, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục phổ thông nhằm mục tiêu: Đến năm 2020, bảo đảm đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với quy hoạch đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục phổ thông ở từng địa phương; Đến năm 2025, đội ngũ được chuẩn hóa ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.