Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 818

Trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, tư duy tính toán là năng lực quan trọng trong giáo dục STEM, giúp học sinh giải quyết vấn đề và thích ứng với thị trường lao động tương lai. Nghiên cứu này tổng quan tài liệu, phân tích các nghiên cứu quốc tế và quan sát thực tiễn tại 05 trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh để đánh giá biểu hiện năng lực tư duy tính toán trong giáo dục STEM Robotics. Dựa trên các tiêu chí quốc tế và dữ liệu thực tiễn, nghiên cứu đề xuất một khung năng lực tư duy tính toán gồm 06 thành tố chính (nhận dạng mẫu, phân tách vấn đề, thiết lập thuật toán, trừu tượng hóa, khái quát hóa, gỡ lỗi) với 25 tiêu chí cụ thể. Khung năng lực này cung cấp cơ sở khoa học cho việc thiết kế chương trình STEM Robotics phù hợp với học sinh Việt Nam, đồng thời mở rộng ứng dụng tư duy tính toán trong giáo dục STEM. Kết quả nghiên cứu không chỉ định hướng phát triển chương trình giảng dạy mà còn tạo nền tảng cho nghiên cứu thực nghiệm và chuẩn hóa định lượng về năng lực tư duy tính toán trong giáo dục Việt Nam.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 569
Trong Chương trình Ngữ văn 2018, yếu tố người kể chuyện trong truyện kể là một nội dung quan trọng trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện, xuất hiện xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 12. Theo lí thuyết tự sự học, người kể chuyện là một hình tượng được hư cấu trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm, có vai trò to lớn trong nghệ thuật tự sự của một truyện kể. Các yếu tố cơ bản của người kể chuyện là ngôi kể, điểm nhìn và lời kể. Hiện nay, các vấn đề lí luận về người kể chuyện vẫn còn nhiều tranh luận chưa thống nhất nhưng Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 2018 đã lựa chọn những kiến thức phù hợp nhất với người học để đưa vào dạy học. Bằng phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn, bài viết đưa ra một số trao đổi và gợi ý dạy học về nội dung người kể chuyện trong truyện kể theo yêu cầu của Chương trình Ngữ văn 2018, được triển khai theo ba yếu tố cơ bản của người kể chuyện: ngôi kể, lời kể và điểm nhìn của người kể chuyện.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 562
Giáo dục STEM liên quan bốn lĩnh vực Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật), Mathematics (Toán học) được tích hợp xuyên môn bổ trợ cho nhau. Áp dụng giáo dục STEM trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường đại học giúp sinh viên vừa nắm vững lí thuyết vừa thực hành, tạo ra sản phẩm thực tế, ứng dụng vào cuộc sống. Bài viết chỉ ra cách tiếp cận STEM trong giảng dạy đại học thông qua dự án STEM “Điện Mặt Trời áp mái 5kWp cung cấp điện hộ gia đình” đã mang lại những kết quả chính đáng khích lệ trong việc giảng dạy cho sinh viên ngành Kĩ thuật Điện. Sinh viên có cơ hội áp dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn, từ việc khảo sát địa điểm, thiết kế hệ thống, lựa chọn thiết bị, đến thi công và vận hành hệ thống điện Mặt Trời. Dự án giúp sinh viên nâng cao kĩ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và thực hành. Ngoài ra, dự án giúp sinh viên hình thành ý thức về bảo vệ môi trường và sử dụng năng lượng tái tạo. Kết quả đạt được cho thấy, phương pháp giảng dạy STEM đã phát huy hiệu quả, giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 609
Trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông tại Việt Nam, hoạt động trải nghiệm, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc, góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo giáo viên trong việc trang bị cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên Trường Đại học Hùng Vương. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu khảo sát từ 239 sinh viên và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các yếu tố ảnh hưởng chính. Kết quả cho thấy có ba nhân tố chính tác động đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên: 1) Tính chủ động và tích cực của sinh viên, 2) Môi trường học tập và điều kiện hỗ trợ, 3) Sự hướng dẫn và hỗ trợ của giảng viên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy tính chủ động của sinh viên, cải thiện chất lượng môi trường học tập và tăng cường vai trò hỗ trợ của giảng viên trong quá trình đào tạo. Những khuyến nghị này nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng và năng lực của sinh viên trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách hiệu quả trong lớp học tương lai. Nghiên cứu mang đến những gợi ý giá trị cho các chương trình đào tạo giáo viên, người xây dựng chương trình và các nhà hoạch định chính sách giáo dục đang hướng tới việc tăng cường giáo dục trải nghiệm và chuẩn bị đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 550
Thực trạng dạy học môn Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành quả rất tích cực, góp phần bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho thế hệ trẻ trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc dạy học môn này vẫn còn những tồn tại cần được quan tâm, phân tích để tiếp tục cải tiến hiệu quả. Bài viết này tiếp cận theo các thành tố cấu thành môn học gồm mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung, phương pháp dạy học... bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết, khảo sát thực trạng qua nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá dữ liệu khảo sát và đề xuất các biện pháp cải tiến hoạt động dạy học môn Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho sinh viên trong bối cảnh mới.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 725
Chương trình môn Âm nhạc 2018 đưa ra một số định hướng về đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có việc vận dụng phương pháp đọc nhạc theo kí hiệu bàn tay của Kodály. Đây là một phương pháp dạy học phổ biến trong các trường học trên thế giới, rất hữu ích đối với học sinh mới làm quen với việc đọc nhạc. Trong phương pháp này, mỗi âm trong hệ thống bảy nốt nhạc tương ứng với một kí hiệu (tư thế) của bàn tay, giúp học sinh vừa đọc nhạc vừa thể hiện cao độ bằng động tác của bàn tay. Các kí hiệu bàn tay được đặt ở vị trí cao thấp khác nhau tùy theo cao độ của các nốt, hỗ trợ người học cảm nhận âm thanh một cách trực quan và sinh động. Về những đóng góp khoa học và thực tiễn, bài viết này giới thiệu một số hệ thống kí hiệu bàn tay, phân tích những ưu điểm của phương pháp cũng như cách vận dụng trong dạy học môn Âm nhạc ở trường tiểu học. Những thông tin này nhằm giúp giáo viên Âm nhạc hiểu rõ hơn về phương pháp đọc nhạc theo kí hiệu bàn tay, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và triển khai Chương trình môn Âm nhạc một cách hiệu quả hơn.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 492
Động vật hoang dã suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động của con người đã gây ra nhiều hệ lụy đối với ngôi nhà chung của con người. Bảo vệ động vật hoang dã không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tập thể mà là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta. Giáo dục bảo vệ động vật hoang dã là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của công dân trong việc bảo vệ động vật ngoài tự nhiên. Bài viết phân tích thực trạng về giáo dục bảo vệ động vật hoang dã trong nhà trường phổ thông tại Tây Nguyên, nghiên cứu điển hình tại Lâm Đồng và Đắk Lắk. Từ đó, tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản lí, các nhà giáo dục, tổ chức môi trường đưa ra giải pháp thiết thực trong việc cải thiện hiệu quả giáo dục bảo vệ động vật hoang dã trong nhà trường phổ thông Việt Nam.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,064
Trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo, hoạt động đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra đóng vai trò thiết yếu, giúp các cơ sở giáo dục đại học xác định và cải tiến chất lượng chương trình. Đây là yêu cầu cốt lõi trong các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, cả trong nước lẫn quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam, việc triển khai hoạt động đánh giá để đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra vẫn được xem là hoạt động mới và có nhiều thách thức trong việc thực hiện. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để tóm tắt, so sánh các yêu cầu về hoạt động đánh giá để đo lường mức độ đạt chuẩn đầu ra của một số bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo trong và ngoài nước, hệ thống một số nghiên cứu có đề cập đến thách thức của việc thực hiện hoạt động này trên thực tế đối với các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Bài viết góp phần mở rộng thêm hiểu biết lí luận trong lĩnh vực đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo trình độ đại học.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 540
Nghiên cứu này nhằm phát triển và kiểm định công cụ đo đánh giá các hoạt động STEM của học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam. Cấu trúc bốn yếu tố của STEM được xác định bao gồm Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học. Phân tích được thực hiện với mẫu gồm 656 giáo viên và học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Phân tích nhân tố khám phá và khẳng định đã xác nhận mô hình đầy đủ ban đầu gồm 40 mục hỏi và đề xuất một cấu trúc rút gọn với 20 mục được phân bổ lại, có các chỉ số độ phù hợp tốt. Kết quả nghiên cứu đã xác nhận mô hình cấu trúc đẳng phân của các nhân tố, độ tin cậy và tính nhất quán của thang đo trong việc đánh giá các hoạt động STEM ở trường trung học cơ sở, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải điều chỉnh khái niệm về các hoạt động STEM trong kỉ nguyên số.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 784
Nghiên cứu của chúng tôi so sánh phản hồi của ChatGPT với phản hồi của giáo viên trong sửa bài viết tiếng Pháp cấp độ B1+ cho 47 sinh viên đại học. Dữ liệu phân tích là bảng hỏi và các báo cáo chiêm nghiệm của sinh viên so sánh phản hồi của ChatGPT và của giáo viên về số lượng và chất lượng phản hồi, khả năng động viên khích lệ, các tiêu chí chấm bài viết, độ dễ hiểu, tính hữu dụng. Kết quả cho thấy, điểm chấm bài viết của ChatGPT và của giáo viên khá tương đương. Phản hồi của giáo viên được sinh viên đánh giá cao hơn phản hồi của ChatGPT ở hầu hết mọi phương diện, tuy nhiên ChatGPT nhặt được nhiều lỗi hơn và đưa ra nhiều đề xuất chữa lỗi diễn đạt tốt. 51,06% sinh viên thích giáo viên nhận xét hơn, 48,94% thích kết hợp cả hai phương thức phản hồi. Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên về ứng dụng ChatGPT trong giảng dạy tiếng Pháp tại Việt Nam.