PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH “NGƯỜI HỌC TỰ ĐỊNH HƯỚNG” TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH “NGƯỜI HỌC TỰ ĐỊNH HƯỚNG” TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN

Nguyễn Hữu Châu* chau.niesac@yahoo.com Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội 144 đường Xuân Thuỷ, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Đinh Đức Tài taidd@vnies.edu.vn Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 101 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục Toán học là đào tạo những người học ham học hỏi, có tư duy phản biện, sáng tạo, có khả năng độc lập, tự chủ trong học tập, đó là những người học tự định hướng. Điều này đòi hỏi phải thay đổi vai trò của giáo viên Toán trong các nhà trường. Giáo viên phải trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh xây dựng nền tảng kiến thức về các khái niệm, quy tắc và phương pháp toán học, đồng thời phát triển khả năng tư duy của học sinh. Bài báo đề cập tới một nghiên cứu định tính dựa trên phỏng vấn với hai nhóm giáo viên dạy Toán ở lớp 9 và những quan sát về phương pháp dạy học của giáo viên cũng như những tương tác giữa giáo viên và học sinh trong lớp học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng những phương pháp dạy học theo tiếp cận kiến tạo là yếu tố quan trọng trong việc dẫn dắt học sinh trở thành những người học tự định hướng. Những phát hiện này cũng đề xuất những vấn đề cần quan tâm đối với chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên với mục đích thúc đẩy khả năng dạy học theo hướng phát triển khả năng tự định hướng trong học Toán của học sinh.
Từ khóa: 
tư duy phản biện
Tư duy sáng tạo
giáo dục Toán học
người học tự định hướng.
Tham khảo: 

[1] Ball, D. L. (2000). Bridging practices: Intertwining content and pedagogy in teaching and learning to teach. Journal of Teacher Education, 51(3), pp.241 247. https://doi.org/10.1177/0022487100051003013.

[2] Ben-Eliyahu, A. & Linnenbrink-Garcia, L. (2015). Integrating the regulation of affect, behavior, and cognition into self-regulated learning paradigms among secondary and post-secondary students. Metacognition and Learning, 10(1), pp.15-42. https:// doi.org/10.1007/s11409-014-9129-8.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Thông tư số 32/2018/ TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông.

[4] Brooks, M. G. & Brooks, J. G. (1999). The courage to be constructivist. Educational Leadership, 57(3), pp.18 24. https://eric.ed.gov/?id=EJ597075.

[5] Dagdag, J. D. & Calimag, N. A. (2023). Scale development and investigation of self-directed learning readiness in Mathematics among Filipino college students. Journal of Research, Policy & Practice of Teachers & Teacher Education, 13(1), pp.61-75. https://doi.org/10.37134/jrpptte.vol13.1.5.2023.

[6] Dignath, C. & Büttner, G. (2008). Components of fostering self-regulated learning among students: A meta-analysis on intervention studies at primary and secondary school level. Metacognition and Learning, 3(3), pp.231-264. https://doi.org/10.1007/ s11409-008-9029-x.

[7] Dignath, C. & Veenman, M. V. J. (2021). The role of direct strategy instruction and indirect activation of self-regulated learning: Evidence from classroom observation studies. Educational Psychology Review, 33(2), pp.489-533. https://doi.org/10.1007/s10648 020-09534-0.

[8] Garrison, D. R. (1997). Self-directed learning: Toward a comprehensive model. Adult Education Quarterly, 48(1), pp.18-33. https://doi. org/10.1177/074171369704800103.

[9] Kistner, S., Rakoczy, K., Otto, B., Dignath-van Ewijk, C., Büttner, G. & Klieme, E. (2010). Promotion of self regulated learning in classrooms: Investigating frequency, quality, and consequences for student performance. Metacognition and Learning, 5(2), pp.157-171. https://doi.org/10.1007/s11409-010 9055-3.

[10] Knowles, M. S. (1975). Self-directed learning: A guide for learners and teachers. Association Press. https://eric. ed.gov/?id=ED114653.

[11] Kramarski, B. & Michalsky, T. (2010). Preparing preservice teachers for self-regulated learning in the context of technological pedagogical content knowledge. Learning and Instruction, 20(5), pp.434-447. https://doi.org/10.1016/j.learninstruc.2009.05.003.

[12] Kramarski, B. & Revach, T. (2009). The challenge of self-regulated learning in mathematics teachers’ professional training. Educational Studies in Mathematics, 72(3), pp.379-399. https://doi.org/10.1007/s10649-009-9204-2.

[13] Loyens, S. M. M., Magda, J. & Rikers, R. M. J. P. (2008). Self-directed learning in problem-based learning and its relationships with self-regulated learning. Educational Psychology Review, 20(4), pp.411-427. https://doi.org/10.1007/s10648-008-9082-7.

[14] OECD. (2023). PISA 2022 results (Volume I and II) - Country notes: Viet Nam. OECD Publishing. https://www.oecd.org/en/publications/2023/11/ pisa-2022-results-volume-i-and-ii-country notes_2fca04b9/viet-nam_719c3c08.html.

[15] Pokhrel, M. & Sharma, L. (2024). Investigating students’ perceptions of self-directed learning in mathematics at the basic school level. Journal of Mathematics and Science Teacher, 4(3), em066. https://doi.org/10.29333/mathsciteacher/14616.

[16] Trần Sỹ Luận, Nguyễn Thị Yến Phương, Hà Văn Dũng & Nguyễn Thành Tuân. (2025). Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của học sinh tại một số trường trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Tạp chí Giáo dục, 25(1), tr.42-48.

[17] Vũ Minh Đức. (2025). Biểu hiện của năng lực tự học môn Toán của học sinh trung học phổ thông. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 70(6), tr.140-151. https://doi.org/10.18173/2354 1075.2025-0117.

[18] Yackel, E. & Cobb, P. (1996). Sociomathematical norms, argumentation, and autonomy in mathematics. Journal for Research in Mathematics Education, 27(4), pp.458-477. https://doi.org/10.2307/749877.

[19] Zimmerman, B. J. (2002). Becoming a self-regulated learner: An overview. Theory Into Practice, 41(2), pp.64-70. https://doi.org/10.1207/s15430421tip41022

Bài viết cùng số