BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO

Trần Hữu Thanh* Thanhtranhct@gmail.com Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng 124 Ngô Quyền, phường Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam
Trần Xuân Phú Phutranxuan@gmail.com Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng 124 Ngô Quyền, phường Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam
Trần Đình Hồng Hongtchvct@gmail.com Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng 124 Ngô Quyền, phường Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Năng lực số của giảng viên là yếu tố quyết định đến hiệu quả chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay có không ít giảng viên vẫn còn gặp khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục. Nguyên nhân cơ bản do hoạt động bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên ở các nhà trường còn có những hạn chế nhất định cả về nội dung, phương thức bồi dưỡng và cơ sở vật chất hạ tầng công nghệ; bên cạnh đó, vai trò tự giác của giảng viên trong tự bồi dưỡng chưa được phát huy. Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lí luận về năng lực số và bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên, bài viết tiến hành khái quát, đánh giá thực trạng tìm ra những khoảng trống trong công tác bồi dưỡng và đề xuất các giải pháp, gồm: Nâng cao nhận thức cho các chủ thể bồi dưỡng; xác định đúng nội dung, đổi mới phương thức bồi dưỡng; phát huy vai trò của giảng viên trong tự bồi dưỡng và xây dựng hệ sinh thái số, nhằm nâng cao năng lực số cho giảng viên, đáp ứng yêu cầu quá trình chuyển đổi số giáo dục hiện nay.
Từ khóa: 
Năng lực số
chuyển đổi số
giảng viên
học viên
trường sĩ quan quân đội.
Tham khảo: 

[1] Bộ Tổng Tham mưu. (07 tháng 01 năm 2024). Báo cáo số 5163/BC-TM về Tổng kết năm học 2023-2024, phương hướng nhiệm vụ năm học 2024-2025.

[2] Bùi Trang Hương. (2024). Đề xuất khung năng lực số của giảng viên đại học Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Tạp chí Giáo dục, 24(24), tr.8-13.

[3] Christine Redecker, Yves Punie. (2017). European Framework for the Digital Competence of Educators DigCompEdu. Jrc science for policy report. European Commission, pp.26-87. doi:10.2760/159770.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập 1). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.

[5] Gutiérrez Porlán, Isabel. (2014). Spanish university teacher profile in terms of skills in information and communication technology. Pixel-Bit. Journal of Media and Education, 44, pp. 51-65. http://dx.doi. org/10.12795/pixelbit.2014.i44.04

[6] Gutiérrez Porlán, Isabel. (2014). Spanish university teacher profile in terms of skills in information and communication technology. Pixel-Bit. Journal of Media and Education, 44, pp. 51-65. http://dx.doi. org/10.12795/pixelbit.2014.i44.04

[7] Oberländer, M., Beinicke, A. & Bipp, T. (2020). Digital competencies: A review of the literature and applications in the workplace. Computers & Education, 2020/146 (103752), pp.1-13. https://doi. org/10.1016/j.compedu.2019.103752

[8] Quân ủy Trung ương. (20/12/2022). Nghị quyết số 1657 NQ/QUTW về Đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới.

[9] Quân ủy Trung ương. (29 tháng 01 năm 2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quân đội.

[10] UNESCO. (2018). A Global Framework of Reference on Digital Literacy Skills for Indicator 4.4.2. In UNESCO Institute for Statistics, 51.

[11] Uerz, D., van Zanten, M., van der Neut, I., Tondeur, J., Kral, M., Gorissen, P. & Howard, S. (2021). A digital competences framework for lecturers in higher education. Utrecht: Acceleration plan Educational innovation with IT, Creative Commons Attribution 4.0 International licence. https://www. versnellingsplan.nl/wpcontent/uploads/2022/03/ A-framework-for-digital-competences-of lecturers.pdf

Bài viết cùng số