THỰC TRẠNG VẬN DỤNG MÔ HÌNH KẾT HỢP TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN LỰA CHỌN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THỰC TRẠNG VẬN DỤNG MÔ HÌNH KẾT HỢP TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN LỰA CHỌN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Đỗ Thu Hà hadt@vnies.edu.vn Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 101 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Dạy học kết hợp là một trong những mô hình mới dựa trên nền tảng số xuất hiện trong những thập kỉ gần đây đã thúc đẩy việc dạy và học trở nên năng động hơn, mang đến những trải nghiệm học tập đa dạng. Mô hình này có nhiều ưu thế trong dạy học nói chung và dạy học các môn lựa chọn ở trường trung học phổ thông nói riêng. Nhằm đánh giá thực trạng vận dụng mô hình dạy học kết hợp đối với các môn lựa chọn, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 1850 giáo viên trung học phổ thông trên 05 tỉnh thành, đại diện cho các vùng miền cả nước. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết giáo viên đã nhận thức đúng và đầy đủ về bản chất của mô hình dạy học kết hợp. Trong quá trình dạy học, giáo viên đã chủ động tích cực triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ số, thực hiện dạy học kết hợp ở những mức độ nhất định. Điều đáng ghi nhận là dù còn nhiều khó khăn nhưng hầu hết giáo viên đều có tâm thế sẵn sàng phát triển bản thân để thích ứng với việc thực hiện mô hình dạy học mới. Bên cạnh kết quả đó vẫn còn một số bất cập liên quan đến nhận thức của giáo viên, những vướng mắc trong quá trình áp dụng mô hình dạy học kết hợp. Đây là căn cứ thực tiễn quan trọng để tìm kiếm các biện pháp hỗ trợ giúp giáo viên khắc phục khó khăn, áp dụng mô hình dạy học kết hợp có hiệu quả vào thực tiễn.
Từ khóa: 
mô hình dạy học kết hợp
môn học lựa chọn
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Trung học phổ thông.
Tham khảo: 

[1] Bonk, C. J. & Graham, C. R. (2005). Handbook of blended learning: Global Perspectives, local designs. San Francisco, CA: Pfeiffer Publishing.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể.

[3] Cobo-Rendón, R., Bruna Jofre, C., Lobos, K., Cisternas San Martin, N., & Guzman, E. (2022). Return to University Classrooms With Blended Learning: A Possible Post-pandemic COVID-19 Scenario [Perspective]. Frontiers in Education, Volume 7 - 2022. https://doi.org/10.3389/feduc.2022.957175

[4] Christine Greenhow, Charles R Graham, Matthew J Koehler. (2022). Foundations of online learning: Challenges and opportunities, Educational Psychologist; Routledge; https://www. tandfonline.com/ doi/abs/10.1080/00461520.2022. 2090364

[5] Dao Chinh, Do Ha, Dang Hue, Phan Loi. (2025). “Current state and proposals for blended learning in teaching elective subjects in high schools: Dataset from Vietnam”, Mendeley Data, V1, doi: 10.17632/ gp4mvt542h.1.https://data.mendeley.com/data sets/gp4mvt542h/1

[6] Đào Ngọc Chính và các cộng sự. (2022). Nghiên cứu mô hình dạy học kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến (Blended) ở trường phổ thông góp phần thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, V2022-17TX - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.

[7] Jared Stein, Charles R. Graham. (2014). Essentials for Blended Learning: A Standards-Based Guide, Pub. Location New York.

[8] Michael B. Horn, Heather Staker. (2012). The rise of K-12 blended learning, Innosight institute

[9] Nguyen, D. K., Duong, V. B., Nguyen, C. C., Nguyen, T., & Tran, H.-H. (2024). Factors affecting grade 6 students’ learning following the B-Learning model. Multidisciplinary Reviews, 7(8), 2024180-2024180.

[10] Nguyễn Hoàng Trang và các cộng sự. (2020). Dạy học kết hợp và tổ chức dạy học kết hợp tại trường trung học phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 485, Kì 1.

[11] Nguyễn Thị Hồng Nhung, Mai Văn Hưng. (2019). Vận dụng mô hình dạy học kết hợp (Blended learning) trong dạy học sinh học ở trường trung học phổ thông, Kỉ yếu Hội thảo quốc tế, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[12] Nguyễn Thị Kiều Vân. (2022). Thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến, NXB Thế giới.

Bài viết cùng số