THÚC ĐẨY GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ EM CÓ NHU CẦU ĐẶC BIỆT HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ: PHÂN TÍCH LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TỪ VIỆT NAM

THÚC ĐẨY GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ EM CÓ NHU CẦU ĐẶC BIỆT HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ: PHÂN TÍCH LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TỪ VIỆT NAM

Đào Thị Thu Thủy dttthuy@daihocthudo.edu.vn Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội 98 Dương Quảng Hàm, phường Nghĩa Đô, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Bài viết tập trung phân tích vai trò của giáo dục hòa nhập trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, đặc biệt đối với trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt tại Việt Nam. Trên cơ sở tổng quan lí luận và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đã xác định những khoảng trống trong thực tiễn giáo dục hòa nhập tại Việt Nam, bao gồm: khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa trẻ em khuyết tật và không khuyết tật, hạn chế về cơ sở vật chất, năng lực giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu và sự phối hợp còn lỏng lẻo giữa các bên liên quan. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích tài liệu, tổng hợp kết quả khảo sát thực tiễn và đối sánh mô hình giáo dục hòa nhập tại Nhật Bản và Hoa Kì. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Việt Nam cần tăng cường can thiệp sớm, đào tạo giáo viên chuyên biệt, xây dựng hệ sinh thái giáo dục hòa nhập với sự tham gia của nhà trường, gia đình, cộng đồng và quản lí nhà nước. Những đề xuất này góp phần hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập và đảm bảo quyền học tập công bằng cho mọi trẻ em trong bối cảnh phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Từ khóa: 
giáo dục hoà nhập
phát triển bền vững
hội nhập quốc tế
mô hình giáo dục
hệ sinh thái giáo dục hòa nhập.
Tham khảo: 

[1] Bunch, G. (2008). The key to successful inclusive education: A perspective from experience in the field. Revista de Educación Inclusiva, 1(1), p.91– 101. https://e93n72yruom.exactdn.com/site/wpcontent/uploads/2017/01/GBunch2008_en.pdf

[2] Cho, S., & Park, J. (2024). Inclusive education in Japan and its role in international cooperation: Analysis of a project for children with disabilities in Mongolia. Asia Pacific Education Review, 25(1), p.229–242. https://doi.org/10.1007/s12564-023-09923-4.

[3] International Disability and Development Consortium. (2023). Inclusive education: An imperative for advancing human rights and sustainable development. https://www.iddcconsortium.net/blog/inclusiveeducation-an-imperative-for-advancing-humanrights-and-sustainable-development.

[4] Nguyễn, X. H., Đỗ, T. T., Trần, T. B. N., & Lê, T. T. H. (2023). Developing inclusive education support models for children with disabilities in Vietnam. International Journal of Elementary Education, 12(2), p.43–52. https://doi.org/10.11648/j.ijeedu. 20231202.13SciencePublishingGroup+3Re search Gate+3Science Publishing Group+3.

[5] Nguyễn, X. H., Villa, R. A., Tac, L. V., Thousand, J. S., & Muc, P. M. (2020). Inclusion in Vietnam: More than a quarter century of implementation. International Electronic Journal of Elementary Education, 12(3), 257–264. https://doi.org/10.26822/ iejee.2020358219.

[6] Trang, D. N. T., Hung, N. V., Phuong, N. M., & Thuy, D. T. T. (2023). Inclusive Education in the Current Context of Innovations of Education in Vietnam. Journal of Education for Sustainability and Diversity, 2(2), p.228– 251. https://doi.org/10.57142/jesd.v2i2.100.

[7] UNICEF. (2023). Inclusive education in Viet Nam. https:// www.unicef.org/vietnam/inclusive-education.

[8] United Nations. (2015). Transforming our world: The 2030 Agenda for Sustainable Development. https:// sdgs.un.org/2030agenda.

[9] Wrightslaw. (n.d.). No Child Left Behind: Overview of the law. Retrieved April 20, 2025, from https://www. wrightslaw.com/info/nclb.law.overview.htm

Bài viết cùng số