Danh sách bài viết

Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,850
Xây dựng văn hóa ứng xử là nhiệm vụ quan trọng của trường phổ thông. Để xây dựng văn hóa ứng xử tốt, trường phổ thông cần chú trọng thực hiện năm hoạt động cơ bản, gồm: hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng văn hóa ứng xử, hoạt động xây dựng và thực hiện Bộ quy tắc ứng xử, hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực ứng xử văn hóa và năng lực giáo dục văn hóa ứng xử cho tập thể sư phạm nhà trường, hoạt động phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội trong xây dựng văn hóa ứng xử. Để xây dựng thành công văn hóa ứng xử, trường phổ thông cần chú trọng các nguồn lực về con người, tài chính và cơ sở vật chất.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 860
Bài báo trình bày thực trạng quản lí chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học vào đào tạo tại trường đại học khối Nông Lâm trong bối cảnh hiện nay được đánh giá theo 4 tiêu chí (biểu hiện) cơ bản. Mỗi tiêu chí bao gồm 21 thành tố thuộc về nhận thức (Awareness-A) và 4 chức năng trong mô hình quản lí PDCA. Kết quả phân tích thực trạng chung cho thấy, nhiều thành tố được đánh giá tốt thuộc nhóm nhận thức (Awareness-A) và chức năng lập kế hoạch (P) hơn chức năng tổ chức thực hiện (D), kiểm tra giám sát (C) và điều chỉnh bổ sung kế hoạch (A). Kết quả phân tích thực trạng là cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động đặc thù này.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,159
Xây dựng hệ giá trị văn hóa cho học sinh trong trường phổ thông là một bài toán khó, chí ít trên hai phương diện: Thứ nhất là hiểu thế nào về giá trị văn hóa để có thể có sự đồng thuận; Thứ hai là làm thế nào lựa chọn các giá trị văn hóa cốt lõi trong vô vàn giá trị văn hóa để đưa vào nhà trường. Bài viết này muốn tìm lời giải từ một số bài học kinh nghiệm trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về giáo dục giá trị và lựa chọn giá trị trong nhà trường phổ thông của một số nước trên thế giới.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,558
Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả bàn về khái niệm năng lực sáng tạo của học sinh trung học cơ sở nói chung và năng lực sáng tạo của học sinh trung học cơ sở trong đọc hiểu văn bản văn học. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề cập đến một biện pháp trong tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản văn học giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo, đó là tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm thông qua các vai khác nhau khi đến với tác phẩm (vai nhân vật, vai nhà văn, vai người quan sát chứng kiến). Khi hòa mình vào vai của các chủ thể khác nhau trong văn bản, bạn đọc học sinh sống với những xúc cảm, niềm vui, nỗi buồn của họ; thấu hiểu những thân phận, đồng sáng tạo với nhà văn. Khi bước ra khỏi văn bản, học sinh nhìn nhận, đánh giá về các giá trị của văn bản và biết vận dụng sáng tạo vào chính bản thân mình.Tổ chức quá trình đó trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học, giáo viên góp phần giúp học sinh đạt đến một số những biểu hiện năng lực sáng tạo của HS trung học cơ sở trong đọc hiểu văn bản văn học.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,040
SOGIE-related school violence covers sexuality and gender-identity/ expression-related bullying and other violent acts and threats, occurring in and around educational contexts. These may result in physical, verbal, sexual, psychosocial or technology-related harm to children. It is based on gender and sexuality stereotypes, particularly roles and norms expected of children because of the privileging of heterosexual norms and gender roles in society. The study on SOGIE-related school violence in secondary schools of Viet Nam revealed some important findings on the level of SOGIE-related violence that LGBT students experienced in schools, their perception of school safety, as well as their responses to this form of school violence. Based on the evidence collected from the study results, several recommendations were proposed, including those for policy makers, curriculum developers, and schools, to prevent SOGIE-related school violence and build a safe, healthy school environment for all learners.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 810
Lối sống được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi, cách ứng xử của con người. Giáo dục lối sống là giáo dục cách cư xử chuẩn mực trong cuộc sống thường ngày. Giáo dục đạo đức lối sống cho trẻ em, học sinh là điều vô cùng cần thiết và cần phải có sự tham gia của tất cả các lực lượng xã hội đó là gia đình, nhà trường và các lực lượng khác. Nghiên cứu được thực hiện trên 248 cán bộ quản lí, giáo viên các trường tiểu học và các lực lượng xã hội ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng về thực trạng giáo dục lối sống cho học sinh tiểu học dựa vào cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các lực lượng xã hội đều nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục lối sống cho học sinh tiểu học. Việc thực hiện các nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục lối sống cho học sinh tiểu học dựa vào cộng đồng đã được thực hiện song chưa được thường xuyên và hiệu quả.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 908
Geometric thinking is considered to be one of the most controversial thinkings. Many researches have observed that children have various opportunities to cultivate the elements of geometric thinking at different levels throughout mathematical activities. Having experimented, we found out that these puzzle games are both attractive and potential to develop visualization, imagination and thinking in terms of shapes. Tri Uan is a seven-piece tangram, which is popular in Vietnam. This article presents the research of geometric thinking components and geometric activities through Tri Uan in order to develop geometric thinking at each level in children.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,101
Giáo dục đào tạo luôn được đánh giá là “quốc sách” của mọi quốc gia trên con đường xây dựng đất nước theo hướng phát triển bền vững, là nhân tố chìa khóa trong xu hướng hội nhập quốc tế, là động lực thúc đẩy nền kinh tế. Bài viết trình bày về sự phát triển tất yếu của một hình thức giáo dục đào tạo mới - đào tạo trực tuyến eLearning/eTraining trong nền kinh tế tri thức ngày nay cũng như những ưu điểm của hình thức đào tạo này so với đào tạo truyền thống và xu thế phát triển của eLearning/ eTraining trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bên cạnh việc nêu và phân tích các ưu điểm và hạn chế của một số phần mềm eLearning đang được phổ biến hiện nay ở Việt Nam, nhóm tác giả cũng giới thiệu và đề xuất giải pháp eTraining trên mạng xã hội nền tảng Blockchain Latoi.net do nhóm người Việt Nam sáng tạo và cung cấp.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 777
Information Technology (IT) human resource development has been put on the top agenda for all countries’ development in the fourth industrial revolution.In this movement, Vietnam also has to deal with a huge gap between the demand and supply of high-quality IT human resources. The paper puts forward five major solutions for the inadequate IT human resources in Vietnam including (i) developing an optimum strategy for high-quality IT human resources; (ii) enhancing the cooperation and networking among different partiesincluding Government, training institutions, businesses; (iii) updating and diversifying the training programs; (iv) regenerating the good model/practice of connecting business - university - technology providers in integrated efforts of IT human resource development; (v) developing an information connecting portal.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 719
The growth of information technology is changing the way of teaching and learning in higher education. E-learning system is a part of this change, which help students and instructions interact become easier. Learning management system (LMS) becomes more innovative and useful for learning activities regarding time and location. This paper examine the mediating role of perceived usefulness and self-efficacy on student satisfaction of LMS. We adopted the extended information system (IS) success model with perceived usefulness and self-efficacy as mediator. The model was tested with 220 students in University of Economics Ho Chi Minh City who use a LMS for most of the course they took. Partial least squares (PLS) technique is employed to test the possible mediating effects. The PLS analysis results revealed that Perceived usefulness fully mediate the relationship between service quality to learner satisfaction of LMS. Furthermore, research found that Perceived usefulness play as partially mediator which mediate the relationship between information quality and system quality with learner satisfaction