Bạn đang ở đây
Bài viết khoa học
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,413
Để xây dựng khung cơ sở lí thuyết cho việc đề xuất khung đánh giá chính sách giáo dục vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam, nghiên cứu này tiến hành đánh giá nhanh các tài liệu tìm kiếm các nghiên cứu phù hợp cho việc so sánh, phân tích, tổng số có hơn hơn 96 nghiên cứu được tìm thấy. Sau khi loại bỏ các nghiên cứu không phù hợp, 8 nghiên cứu với 5 khung lí thuyết về đánh giá chính sách giáo dục vì sự phát triển bền vững được sử dụng và phân tích. Trên cơ sở phân tích, so sánh và đánh giá các khung đánh giá chính sách phát triển bền vững, giáo dục vì sự phát triển bền vững, chính sách môi trường và phát triển bền vững trên thế giới, nhóm tác giả đề xuất khung lí thuyết về đánh giá chính sách giáo dục vì sự phát triển bền vững làm định hướng cho các nghiên cứu lí thuyết về lĩnh vực này trong tương lai.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,766
Trước những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Mỗi quốc gia đều nghiên cứu về giải pháp ứng phó trước mắt và lâu dài. Một trong những giải pháp được nhiều nước trên thế giới áp dụng là đưa giáo dục biến đổi khí hậu vào hệ thống trường học. Ở Việt Nam, từ năm học 2011-2012, các nhà trường đã thực hiện giáo dục biến đổi khí hậu cho học sinh theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Để đáp ứng nhu cầu quản lí hoạt động trên hiệu quả rất cần những biện pháp quản lí phù hợp với loại hình trường, đặc điểm học sinh theo vùng miền. Biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến gia tăng thiên tai. Vì vậy, cần đồng thời giáo dục cho học sinh kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai. Đó là lí do tác giả đã nghiên cứu về quản lí hoạt động này, số liệu khảo sát thực trạng cho thấy trong các hình thức giáo dục, học sinh hứng thú nhất với hình thức giáo dục thông qua câu lạc bộ. Trong phạm vi bài viết, tác giả trình bày một số điểm chính về nghiên cứu này.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,059
Xây dựng văn hóa chất lượng trường trung học cơ sở thông qua hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở là một giải pháp quản lí chất lượng nhằm đưa ra những kết quả tin cậy cách kiểm soát các điều kiện, quá trình tổ chức giáo dục của nhà trường. Hoạt động này gắn bó chặt chẽ với xây dựng văn hóa chất lượng trong nhà trường trung học cơ sở, cụ thể là: Xác định và thực hiện tiêu chuẩn chất lượng; Thiết lập quy trình kiểm định chất lượng; Giáo dục về chất lượng; Tạo điều kiện cho phản hồi và cải tiến; Tạo cơ hội học tập tích cực; Thúc đẩy tinh thần tự trách nhiệm và tôn trọng; Khuyến khích sự hợp tác và giao lưu; Xây dựng văn hóa đánh giá công bằng; Tôn trọng và khích lệ; Tôn trọng và tôn vinh thành tựu. Khảo sát 305 người ở một số trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, ngoài những kết quả đạt được, hoạt động xây dựng văn hóa chất lượng và hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở còn bộc lộ một số hạn chế như: Nhận thức chưa đúng đắn của các lực lượng giáo dục; Công tác lập kế hoạch, kiểm tra đánh giá còn nặng về hình thức, các phương pháp thực hiện hoạt động xây dựng văn hóa chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục chưa đồng bộ. Từ thực tiễn đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa chất lượng trường trung học cơ sở thông qua hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,049
Bài viết nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức hướng dẫn và điều chỉnh hành vi của mỗi người, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giáo dục. Đây là chuẩn mực gắn với công việc hằng ngày của mỗi người, hướng dẫn chặt chẽ về cách sống và làm việc đúng đắn. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” cho đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị lí luận và thực tiễn. Bài viết nghiên cứu quá trình Đảng bộ Thành phố Cần Thơ đã triển khai và áp dụng tư tưởng đạo đức chuẩn mực “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” trong quá trình giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng các chuẩn mực này trong thời gian tới tại Đảng bộ Thành phố Cần Thơ.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 856
This study evaluated the nutritional status of 150 children aged 3 to 6 years with developmental disorders, including autism and attention deficit hyperactivity disorder (ADHD), attending six special education centers in Northern Vietnam. The results showed a higher rate of malnutrition, with underweight malnutrition being the most common, accounting for 13.3% of evaluated children, followed by stunting malnutrition at 1.3%, and wasting malnutrition at the lowest rate of 0.7%. Notably, the rate of overweight children is very low, only 0.7%. The study also identified various factors influencing the nutritional status of these children, including oral health problems, difficulty chewing and swallowing, oral-tongue motor coordination disorders, picky eating, and gastrointestinal issues. A concerning finding was the relatively high proportion of children facing challenges related to chewing and swallowing, oral-motor coordination disorders, and selective eating. This underscores the urgency of implementing timely and appropriate intervention strategies. To address these challenges effectively and comprehensively, the study emphasizes the need to strengthen cross-sectoral collaboration across the fields of Healthcare, Education, and Nutrition to develop integrated solutions capable of meeting the specific needs of this group of children. The study underscores the need to strengthen cross-sectoral collaboration, particularly in Healthcare, Education, and Nutrition, to develop integrated solutions that can effectively meet the specific needs of this group of children.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,251
Trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều khó khăn trong mọi lĩnh vực phát triển, đặc biệt là các kĩ năng xã hội. Hạn chế trong giao tiếp tương tác xã hội, hành vi định hình dập khuôn lặp lại là những đặc điểm khiến trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều cản trở trong quá trình tiếp nhận và thực hành các kĩ năng xã hội trong cuộc sống. Bởi vậy, bên cạnh việc nhận diện và can thiệp sớm thì việc sử dụng câu chuyện xã hội để hỗ trợ cho quá trình giáo dục các kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ là rất quan trọng. Bài báo tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng câu chuyện xã hội trên mẫu khách thể là 60 giáo viên can thiệp tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số giáo viên đã nhận thức khá đầy đủ về các khái niệm và tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng xã hội thông qua câu chuyện xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Điều này thể hiện qua việc giáo viên đã áp dụng các phương pháp khác nhau, tần suất sử dụng câu chuyện xã hội cũng như những đánh giá mức độ thuận lợi, khó khăn của giáo viên trong quá trình giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ tự kỉ 5 - 6 tuổi. Tuy nhiên, việc sử dụng câu chuyện xã hội chưa được hiệu quả, đồng đều và liên tục trong quá trình giáo dục các kĩ năng xã hội. Từ kết quả nghiên cứu thực trạng đã định hướng việc có những nghiên cứu sâu, cụ thể hơn về vấn đề này.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,398
Đo lường và đánh giá mức độ đạt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo là một hoạt động bảo đảm chất lượng bắt buộc đối với các cơ sở giáo dục đại học. Bài viết này trình bày nghiên cứu nhằm khởi tạo một mô hình tham chiếu bao gồm các đối tượng dữ liệu và các thành phần liên quan trong vòng đời đánh giá mức độ đạt chuẩn đầu ra của một chương trình đào tạo đại học. Mô hình tham chiếu được đề xuất có tính đến các tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng như AUN-QA, ABET và các quy định của hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam. Mô hình tham chiếu hỗ trợ công nghệ thông tin này đặt nền tảng cho sự thành công của quá trình chuyển đổi số trong các hoạt động giáo dục, bao gồm đo lường và đánh giá mức độ đạt chuẩn đẩu ra của chương trình đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học. Bài viết cũng trình bày phần mềm hỗ trợ mô hình tham chiếu và kết quả thí điểm bước đầu việc đánh giá mức đạt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo đại học.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,355
Nghiên cứu này đề cập đến các vấn đề sau: 1) Nhận diện những trẻ tăng động giảm chú ý và có vấn đề về hành vi trong trường mầm non thông qua bảng kiểm về các dấu hiệu trẻ có hành vi bất thường, từ đó có thể hỗ trợ và giúp trẻ được phát hiện, can thiệp sớm; 2) Một số biện pháp giúp giáo viên quản lí các hành vi của trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non thông qua các hoạt động hằng ngày của trẻ ở trường: Hoạt động học; hoạt động ăn, ngủ; hoạt động vui chơi. Những biện pháp này giúp giáo viên hạn chế được một số hành vi không bình thường ở trẻ tăng động giảm chú ý và đảm bảo các hoạt động trong ngày được thực hiện đúng kế hoạch đã xây dựng trước đó.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,442
Năng lực giải quyết vấn đề là một năng lực cần thiết giúp trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thích ứng với môi trường mới, đặc biệt là thích ứng với lớp Một ở trường tiểu học. Trong Chương trình Giáo dục mầm non, khám phá khoa học là một hoạt động trong lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ, mà năng lực giải quyết vấn đề của trẻ hình thành và phát triển đồng thời theo quá trình nhận thức của trẻ. Hoạt động khám phá khoa học là hoạt động tạo nhiều cơ hội phát triển năng lực này ở trẻ. Bài viết chỉ ra năng lực giải quyết vấn đề của trẻ và biểu hiện năng lực giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo trong hoạt động khám phá khoa học. Thông qua phương pháp nghiên cứu quan sát, phỏng vấn, sử dụng bảng kiểm kê, bài viết đã đưa ra bức tranh thực trạng năng lực giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra năm gợi ý nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,608
Kĩ năng xã hội cũng cần thiết đối với học sinh cấp Tiểu học như kĩ năng đọc và viết cơ bản. Kĩ năng xã hội là tiền thân cực kì quan trọng để học sinh xây dựng mối quan hệ tích cực với các bạn cùng lứa tuổi ở trường. Bằng cách bồi dưỡng các kĩ năng xã hội phù hợp, học sinh sẽ có nhiều khả năng thích nghi tốt với nhiều môi trường khác nhau và có khả năng làm việc hợp tác, tự tin và độc lập tốt hơn bằng cách trải nghiệm thành công xã hội ngay từ khi còn nhỏ. Bài viết nêu lên ý nghĩa của giáo dục kĩ năng xã hội, những khó khăn về kĩ năng xã hội và đề xuất những nội dung và chiến lược cần quan tâm để giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh khuyết tật nhìn cấp Tiểu học.
- « Đầu tiên
- ‹ trước
- …
- 47
- 48
- 49
- 50
- …
- tiếp ›
- Cuối cùng »

