Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 316
Miệt thị ngoại hình đang trở thành một dạng bạo lực tinh thần phổ biến trong trường học và trên không gian mạng, đòi hỏi cần có các chương trình giáo dục giúp học sinh nhận diện và phòng tránh. Nghiên cứu được tiến hành trong 04 tháng cuối năm 2024 trên học sinh lớp 5 tại tỉnh Phú Thọ với ba biện pháp rèn kĩ năng nhận diện nguy cơ bị miệt thị ngoại hình: 1) Thiết kế và tổ chức trò chơi nhận diện; 2) Tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với tình huống thực tiễn; 3) Sinh hoạt chuyên đề theo chủ điểm. Thực nghiệm được triển khai với 53 học sinh lớp thực nghiệm và 55 học sinh lớp đối chứng, đảm bảo tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường giáo dục, trình độ giáo viên và cơ sở vật chất. Kết quả cho thấy, ba biện pháp đều có tính cần thiết, khả thi, hiệu quả và có giá trị ứng dụng trong thực tiễn. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chương trình giáo dục phòng chống miệt thị ngoại hình ở trường tiểu học, đồng thời nâng cao năng lực tự bảo vệ và kĩ năng sống cho học sinh trong bối cảnh hiện nay.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 294
Rào cản ngôn ngữ là thách thức lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số Việt Nam trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Toán học. Dựa trên cơ sở lí luận về sự chuyển di ngôn ngữ và kết quả khảo sát diện rộng trên 3 463 giáo viên tiểu học, bài báo nhận diện ba nhóm rào cản cốt lõi mà học sinh thường gặp phải: 1) Khó khăn trong nhận dạng ngôn ngữ Toán học; 2) Khó khăn trong hiểu nội hàm thuật ngữ Toán học; 3) Khó khăn trong chuyển đổi biểu đạt. Từ cơ sở thực tiễn đó, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số, bao gồm sử dụng đồ dùng trực quan, gắn kết kiến thức với trải nghiệm đời sống, tăng cường tiếng Việt trong dạy học toán và ứng dụng công nghệ số. Kết quả khảo nghiệm thông qua tập huấn cho 185 cán bộ quản lí và giáo viên cốt cán tại 21 tỉnh thành cho thấy sự đồng thuận cao về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp, góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại vùng dân tộc thiểu số.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 280
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học, năng lực số của giảng viên chi phối đổi mới dạy học và phát triển nghề nghiệp. Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu chủ yếu mô tả việc dùng công cụ, ít làm rõ trải nghiệm và lộ trình phát triển, nhất là ở khối ngoại ngữ. Nghiên cứu này khảo sát cách giảng viên tiếng Anh hiểu, kiến tạo và phát triển năng lực số, đồng thời nhận diện các yếu tố cá nhân, tổ chức và văn hóa tác động. Theo tiếp cận hiện tượng học, dữ liệu từ 18 giảng viên tại ba trường đại học được thu thập qua phỏng vấn bán cấu trúc, nhật kí phản tư và phân tích tài liệu. Kết quả cho thấy năng lực số chủ yếu được bồi đắp bằng tự học và hợp tác đồng nghiệp; rào cản nổi bật là văn hóa kiểm soát và thiếu hỗ trợ, trong khi lãnh đạo định hướng và cộng đồng chuyên môn nội bộ thúc đẩy quá trình này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất mô hình EFL DigCompVN và khái niệm quản trị phát triển năng lực số thích ứng văn hoá, mở rộng khung DigCompEdu theo hướng nhấn mạnh bối cảnh, đồng thời gợi ý hàm ý chính sách cho phát triển nghề nghiệp số của giảng viên tiếng Anh tại Việt Nam.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 212
Đào tạo trình độ thạc sĩ trong lĩnh vực y khoa có ý nghĩa quan trọng và vai trò chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực nghiên cứu, cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đây là cấp đào tạo giữ vị trí then chốt trong việc phát triển bền vững hệ thống y tế Việt Nam hiện nay. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ trên cơ sở kết quả khảo sát 80 cán bộ quản lí, giảng viên và 150 học viên cao học tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu giúp các nhà trường có cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học trong thời gian tới để đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới giáo dục và nhu cầu thực tiễn xã hội.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 224
Trong các loại hình dạy học khám phá thì dạy học khám phá định lí là phương pháp dạy học cốt lõi. Phương pháp dạy học khám phá giúp học sinh kiến tạo kiến thức cho chính mình. Chủ đề “xác suất lí thuyết và xác suất thực nghiệm” là chủ đề quan trọng. Mục đích của nghiên cứu là khai thác hiệu quả việc vận dụng phương pháp dạy học khám phá định lí với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm tạo ra môi trường học tập chủ động, tương tác và cá nhân hóa trong dạy học chủ đề “xác suất lí thuyết và xác suất thực nghiệm”. Trí tuệ nhân tạo không chỉ đóng vai trò cung cấp mô hình mô phỏng tình huống xác suất đa dạng mà còn hỗ trợ giáo viên trong việc phân tích tiến trình học tập, đưa ra gợi ý kịp thời. Phương pháp dùng để đạt được mục tiêu nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu lí luận. Kết quả quan trọng nhất của bài báo là xây dựng được quy trình và tổ chức được cách thức vận dụng phương pháp dạy học khám phá định lí vào chủ đề “Xác suất lí thuyết và xác suất thực nghiệm” với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo cho học sinh lớp 8.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 204
Tác giả đề xuất khung Dự báo → Phân tầng → Can thiệp cho học phần Kĩ năng mềm. Nhật kí hoạt động tuần T1-T7, điểm chuyên cần/thưởng, bài tập ngắn và báo cáo đồng học/tự đánh giá được chuẩn hoá thành đặc trưng ở mức cá nhân và nhóm. Mô hình XGBoost đa lớp kèm hiệu chỉnh isotonic và chia tách group–aware tạo xác suất tin cậy, từ đó suy ra cảnh báo ĐỎ/VÀNG/XANH và tổng hợp lớp/nhóm (phối trộn tầng, danh sách rủi ro). Trên một học kì giữ lại để kiểm định, hệ thống đạt Accuracy = 0.772, Macro-F1 = 0.520, AUPRC(C) = 0.739, Brier = 0.1008, ECE = 0.0577; mô hình tách rõ nhóm thành tích cao so với trung bình và dù lớp C hiếm vẫn xếp hạng rủi ro hiệu quả theo precision - recall. Quy trình chi phí thấp (Google Forms/Sheets thêm ít mã Python), minh bạch, dễ tái lập và hỗ trợ can thiệp phân tầng kịp thời.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 262
Nghiên cứu này phân tích việc vận dụng chu trình PDCA (Plan-Do-Check-Act) trong quản lí dạy học tiếng Anh có ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tại Trường Đại học FPT trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học Việt Nam. Với phương pháp định tính và thiết kế nghiên cứu trường hợp, dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn bán cấu trúc 10 giảng viên và 02 cán bộ quản lí, sau đó xử lí bằng phân tích chủ đề theo bốn giai đoạn của PDCA. Kết quả cho thấy hai giai đoạn đầu (Plan, Do) được triển khai linh hoạt, thể hiện sự chủ động trong lập kế hoạch và đổi mới phương pháp dạy học, trong khi các giai đoạn sau (Check, Act) còn hạn chế về tiêu chí đánh giá và phản hồi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất mô hình AI-PDCA giúp chuẩn hóa quy trình quản lí, thúc đẩy cải tiến liên tục và hình thành mô hình quản trị dạy học tiếng Anh thông minh trong giáo dục đại học Việt Nam.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,018
Trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI - GenAI), đang tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học. Công nghệ này vừa mở ra cơ hội đổi mới phương pháp dạy học vừa đặt ra thách thức về tính chính xác, đạo đức học thuật và nguy cơ phụ thuộc. Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra tiềm năng của GenAI trong hỗ trợ học tập và giảng dạy lập trình. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhất là tại các trường đại học địa phương, các nghiên cứu thực nghiệm để phân tích và đánh giá tình trạng này còn hạn chế và chưa có định hướng ứng dụng rõ ràng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp ứng dụng GenAI trong học lập trình cơ bản của sinh viên ngành Công nghệ thông tin. Kết quả khảo sát ở một số trường đại học địa phương cho thấy phần lớn sinh viên đã tiếp cận GenAI nhưng mới dừng ở mức khai thác cơ bản, chỉ đáp ứng các yêu cầu phổ thông và chưa thực hiện được các nhiệm vụ nâng cao như kiểm chứng thông tin hay cải tiến mã nguồn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp tích hợp GenAI vào hoạt động học tập lập trình, nhằm nâng cao hiệu quả tự học, phát triển năng lực sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, an toàn và có trách nhiệm.