Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,369
Bảng xếp hạng đại học THE Impact (Times Higher Education Impact Ranking) là bảng xếp hạng đại học mới được ra đời từ năm 2019 do THE công bố. Bảng xếp hạng hướng tới mục tiêu đánh giá những đóng góp của các trường đại học cho cộng đồng theo các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. Đến năm 2021, Bảng xếp hạng THE Impact đã kêu gọi được sự tham gia của hơn 1000 trường đại học trên thế giới. Trong bài viết này, tác giả khảo sát sự hiện diện của các trường đại học tại khu vực Đông Nam Á, bao gồm các nước: Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Phillipines, Việt Nam và Campuchia tại bảng xếp hạng này trong giai đoạn 2019-2021. Kết quả cho thấy, bảng xếp hạng này đã ngày càng thu hút được sự quan tâm của các trường đại học tại Đông Nam Á. Mặc dù vậy, trong các đại học thuộc khu vực tham gia vào bảng xếp hạng này, chỉ có rất ít các đại học có thứ hạng cao từ bảng xếp hạng đại học THE truyền thống. Bài viết đưa ra bức tranh sơ bộ về kết quả tham gia bảng xếp hạng THE Impact của các trường đại học Đông Nam Á, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách, các trường đại học và bản thân bảng xếp hạng THE Impact.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,666
Bài viết tập trung nghiên cứu về hiệu ứng của phần mềm GeoGebra nhằm thiết kế các sản phẩm hình học động phục vụ mục đích dạy học Hình học ở tiểu học. Cụ thể, tác giả mong muốn hình thành công thức tính diện tích hình thoi bằng hình ảnh động, giúp các học sinh tiểu học chủ động tiếp thu kiến thức và phát triển tư duy hình học bằng phần mềm GeoGebra. Thông qua thực nghiệm sư phạm, sản phẩm hình học động đã được các giáo viên tiểu học quan tâm và tạo hứng thú học Toán cho học sinh.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,462
Thế kỉ XXI là một thế kỉ của công nghệ, trong đó mọi quốc gia đang thực hiện nhiều cải cách, chính sách liên quan đến các giáo dục khoa học. Một tính năng độc đáo của tích hợp STEM với nghệ thuật bao gồm mĩ thuật, nghệ thuật tự do và nghệ thuật thể chất biến STEM thành STEAM và trở thành khẩu hiệu cải cách giáo dục ở rất nhiều các quốc gia trên toàn thế giới. Việc phát triển Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng tiếp cận năng lực đòi hỏi giáo viên cần có những đổi mới để đáp ứng được xu hướng của giáo dục. Năng lực dạy học STEAM là một trong những năng lực cần có của giáo viên trong thời đại này. Bài viết đề xuất công cụ tự đánh giá năng lực STEAM cho giáo viên phổ thông. Trên cơ sở tham khảo ý kiến một số chuyên gia, cuộc điều tra được tiến hành và thực nghiệm trên 249 giáo viên; bằng việc kết hợp các kĩ thuật kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA), kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 nhóm nhân tố với 37 tiêu chí. Giáo viên có thể sử dụng bộ công cụ này để tự đánh giá, từ đó có những điều chỉnh, bồi dưỡng và phát triển trong việc dạy học STEAM.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,338
Trong những năm gần đây, xếp hạng đại học đã trở thành xu thế, ở một góc độ khác nó đã trở thành một công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Dù muốn hay không muốn, các trường đại học trên thế giới và Việt Nam vẫn phải tham gia một cách chủ động hay bị động vào việc xếp hạng. Do đó, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động tham gia xếp hạng đại học và biết sử dụng kết quả xếp hạng như một căn cứ khách quan để xác định những chỉ tiêu cải tiến chất lượng, nâng cao thứ hạng thông qua đó khẳng định vị thương hiệu và uy tín. Những hiểu biết về xếp hạng đại học trên thế giới sẽ giúp các trường đại học Việt Nam chủ động tham gia xếp hạng đại học phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu và điều kiện của mỗi trường. Nghiên cứu này thu thập, phân tích, so sánh, đánh giá về lịch sử xếp hạng đại học; chỉ ra những xu thế, quy luật của xếp hạng đại học trên thế giới; từ đó đưa ra một số hàm ý quản trị đối với xếp hạng đại học ở Việt Nam.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,082
Trường phổ thông dân tộc bán trú là loại hình trường chuyên biệt được khẳng định tại Điều 61, Luật Giáo dục năm 2019. Thực hiện yêu cầu đổi mới cùng với sự phát triển của đất nước nói chung, phát triển vùng dân tộc thiểu số nói riêng, đối với hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú có nhiều ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong đó được coi là nơi tạo nguồn cho các trường phổ thông dân tộc nội trú - nhân lực người dân tộc thiểu số chất lượng cao của tương lai. Do vậy, những vấn đề về lí luận mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú cần đổi mới theo hướng phát triển bền vững. Đây cũng là xu thế chung trong bối cảnh hiện nay khi nước ta và ngành Giáo dục đang triển khai thực hiện các mục tiêu thiên niên kỉ và các mục tiêu phát triển bền vững ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, miền núi.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,144
Đào tạo giáo viên ngành Giáo dục Tiểu học luôn là thế mạnh của Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu trong nhiều năm qua. Chất lượng đầu vào của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học thường cao hơn các ngành khác. Trong quá trình đào tạo, kết quả học tập của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học thường đạt kết quả cao và số sinh viên có việc làm sau khi ra trường chiếm tỉ lệ cao. Có được điều này là do Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu đã thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên nói chung và giáo viên ngành Giáo dục Tiểu học nói riêng đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 5,670
Đảm bảo chất lượng cơ sở giáo dục đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng/xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương. Hơn nữa, chu trình tổ chức cải tiến chất lượng liên tục luôn được coi là “cốt lõi” để đảm bảo chất lượng cơ sở giáo dục. Dựa trên PDCA, bài báo này trình bày và phân tích đề xuất chu trình tổ chức cải tiến chất lượng liên tục C-EPD (C - Checking là Giám sát/Kiểm tra; E - Evaluating là Đánh giá; P - Planning là Lập kế hoạch; D - Doing là Thực hiện kế hoạch) theo 03 giai đoạn và được chi tiết thành 08 bước có quan hệ chặt chẽ với nhau theo cách “Sản phẩm” của quá trình trước là “Đầu vào” của “Quá trình” sau, cụ thể: (Bước 1 và 2A, 2B) Quá trình tổ chức kiểm tra/giám sát, đánh giá thực trạng chất lượng để xác định vấn đề chất lượng cần cải tiến (C-E); (Bước 3-5) Quá trình lập kế hoạch cải tiến chất lượng (P); (Bước 6-7) Quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện các chiến lược/giải pháp cải tiến chất lượng (D). Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đảm bảo chất lượng cơ sở giáo dục trong thực tiễn.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 4,699
Bài viết đánh giá tác động của căng thẳng học tập đến thái độ học tập của sinh viên. Dựa trên dữ liệu khảo sát, bằng phương pháp hồi quy bội, nghiên cứu tìm thấy tác động tích cực của căng thẳng học tập đến thái độ học tập. Ngoài ra, các nhân tố: phương pháp học tập, giảng viên và phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất cũng là những yếu tố quan trọng giải thích sự khác biệt về thái độ học tập của sinh viên.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,063
Trong đại dịch COVID-19, kinh nghiệm tiếp cận đa ngành về đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục mầm non của Phần Lan, Mĩ, Úc, Nga, Hàn Quốc, Colombia, Thái Lan và Malaysia khẳng định mỗi quốc gia với những điều kiện khác nhau đã ban hành những chính sách, chỉ đạo thực hiện các giải pháp đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non trong bối cảnh COVID-19 với sự phối hợp của nhiều ngành. Trong đó, các giải pháp tập trung vào việc tổ chức diễn đàn trao đổi, hợp tác đa ngành, trao quyền quyết định chất lượng giáo dục mầm non, thu hút sự tham gia của cha mẹ trẻ, hỗ trợ cha mẹ trẻ đang gặp khó khăn, sử dụng các nền tảng công nghệ để giáo dục trực tuyến… Trên cơ sở tổng quan tư liệu kinh nghiệm ứng phó với đại dịch của giáo dục mầm non ở các quốc gia nêu trên chính là bài học thực tiễn để đề xuất khuyến nghị đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non tại Việt Nam theo hướng tiếp cận đa ngành về xây dựng hành lang pháp lí, tăng cường nhận thức, phân cấp, chỉ đạo thực hiện linh hoạt theo cơ chế phối hợp đa ngành tại địa phương, tận dụng các nguồn lực và ứng dụng giải pháp công nghệ thông tin vào giáo dục mầm non trong bối cảnh dịch bệnh.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,545
An toàn thông tin là một ngành đặc thù, là ngành học tương đối khó với quy mô đào tạo hằng năm khá ít so với các ngành học khác mặc dù đã có nhiều cơ chế, chính sách mở và ưu tiên dành riêng cho ngành học này từ các cơ quan chủ quản. Mục đích của nghiên cứu này nhằm xem xét thực trạng quản lí chất lượng đào tạo ngành An toàn thông tin tại Học viện Kĩ thuật Mật mã - một trong các cơ sở đào tạo trọng điểm, dựa trên kết quả khảo sát ý kiến các bên liên quan để từ đó đề xuất các giải pháp cải tiến, nâng cao hiệu quả đào tạo, đáp ứng tốt với yêu cầu thực tiễn hiện nay.

