Danh sách bài viết

Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,526
Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu xu thế trang bị và sử dụng thực tế ảo trong trường phổ thông ở một số quốc gia như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Mĩ, Cộng hoà Liên bang Đức, Vương quốc Anh, Ecuador, Pakistan. Trên cơ sở đó, bài viết đúc kết một số kinh nghiệm về trang bị và sử dụng thực tế ảo cho Việt Nam. Bài viết là tài liệu tham khảo hữu ích đối với việc đề xuất trang bị và sử dụng thực tế ảo ở trường phổ thông hiện nay nhằm thực hiện Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, góp phần đáp ứng yêu cầu Chương trình Giáo dục phổ thông mới.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,192
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu vận dụng mô hình Học cùng cộng đồng vào rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, dự án Cùng em đọc sách là một trải nghiệm lí thú và hữu ích. Với chuỗi hoạt động được lên ý tưởng và triển khai bởi sinh viên tại 3 trường tiểu học, dự án đã tác động tích cực đến quá trình rèn luyện, phát triển kĩ năng nghề ở sinh viên sư phạm. Kết quả nghiên cứu bước đầu khẳng định giá trị của việc vận dụng mô hình học cùng cộng đồng ở trường đại học.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,500
Theo yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, học sinh phổ thông nói chung, học sinh lớp 6 nói riêng cần tạo lập được các bài viết theo những phương thức tạo lập văn bản khác nhau. Chương trình đã đưa ra những yêu cầu chung về quy trình viết, thực hành viết các dạng bài cụ thể. Để phát triển kĩ năng viết cho học sinh, giáo viên cần thiết kế được các bài tập để giúp học sinh làm quen và thực hành viết từng dạng bài theo bốn bước: Chuẩn bị trước khi viết; Tìm ý và lập dàn ý; Viết bài; Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm. Các bài tập này được giao cho học sinh thực hiện trên lớp và ở nhà một cách đều đặn, giúp các em dần dần trở thành người viết độc lập, thành thạo. Bài viết giới thiệu và hướng dẫn giáo viên cách thiết kế và sử dụng bài tập luyện viết cho học sinh lớp 6 môn Ngữ văn. Giáo viên có thể vận dụng cách làm này cho các khối lớp khác để tổ chức hoạt động dạy viết cho học sinh một cách có hiệu quả.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,143
Công tác xã hội trường học với chức năng và vai trò của mình là một hoạt động không thể thiếu nhằm hỗ trợ phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu các vấn đề trong học đường, tạo một môi trường giáo dục lành mạnh, đảm bảo sự yên tâm trong hoạt động dạy và học của thầy và trò. Nhân viên công tác xã hội trong trường học là người kết nối giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng để giúp sinh viên đạt được kết quả học tập tốt nhất. Họ làm việc trực tiếp với gia đình, nhà trường và những cơ quan có liên quan nhằm ngăn chặn những vấn đề về sức khỏe tinh thần, những khủng hoảng và các dịch vụ hỗ trợ khác. Trước đại dịch COVID-19 đã và đang hoành hành tại Khánh Hòa, sinh viên Trường Đại học Khánh Hòa cũng là nhóm đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề. Nhóm giảng viên Công tác xã hội tại Trường Đại học Khánh Hòa đã phát huy vai trò trong việc trợ giúp ổn định tâm lí và kết nối các nguồn lực hỗ trợ đến những sinh viên dương tính, những sinh viên F1 phải cách li tập trung. Một nghiên cứu định tính sử dụng hai phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm phân tích công tác xã hội trường học trong việc trợ giúp sinh viên bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 tại Trường Đại học Khánh Hòa. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, tác giả đưa ra những khuyến nghị nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động công tác xã hội trường học ứng phó với đại dịch tại Trường Đại học Khánh Hòa.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,347
Cá nhân hóa việc học tập đang là xu hướng tất yếu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Để góp phần luận giải rõ hơn về học tập cá nhân hóa, nghiên cứu này nhằm tổng hợp và phân tích các khái niệm liên quan và các nhân tố thiết yếu cần đảm bảo trong quá trình triển khai dạy học cá nhân hóa một cách hiệu quả. Kết quả nghiên cứu chỉ ra xu hướng học tập cá nhân hóa bắt nguồn từ nhu cầu giải quyết bốn vấn đề của giáo dục trong bối cảnh mới, đồng thời cũng nêu rõ sáu nhân tố thiết yếu cần đảm bảo của học tập cá nhân hóa. Những kết quả và khuyến nghị của nghiên cứu không chỉ cung cấp nền tảng lí thuyết cho những nhà quản lí trong việc triển khai mô hình học tập cá nhân hóa tại các nhà trường với sự ứng dụng của các nền tảng kĩ thuật số mà còn giúp các nhà nghiên cứu giáo dục có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề này.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,387
Với Triết học Mác - Lênin, hệ thống lí luận về thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người thì việc giảng dạy, truyền thụ nó muốn có hiệu quả càng đòi hỏi năng lực tự học của người học. WebQuest sẽ là một trong những phương pháp dạy học thúc đẩy năng lực đó của người học. Bài viết phân tích rõ những đặc điểm của học tập với WebQuest, quy trình thiết kế WebQuest và tiến trình thực hiện WebQuest, từ đó vận dụng phương pháp WebQuest vào dạy học học phần Triết học Mác-Lênin.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,305
Bài viết nêu bức tranh về thực trạng đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên về trình độ đào tạo, năng lực hỗ trợ, giáo dục; độ tuổi, tỉ lệ người khuyết tật các dạng được hỗ trợ, giáo dục tại cơ sở và trường hòa nhập, cơ sở vật chất của 11 trung tâm và 14 trường chuyên biệt đại diện các vùng miền ở Việt Nam.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,099
Trong bối cảnh phát triển của công nghệ và những yêu cầu về giáo dục trong thời kì mới, phương pháp dạy và học cũng như kiểm tra đánh giá đòi hỏi phải có những thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội và mục tiêu của giáo dục đại học. Nghiên cứu này được thực hiện bằng việc phân tích tài liệu để tìm hiểu về mục đích đánh giá như hoạt động học tập trong mối liên hệ với quá trình học tập tự định hướng ở các cơ sở giáo dục đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng và mục đích của đánh giá như hoạt động học tập và học tập tự định hướng đều lấy người học là trung tâm và thúc đẩy sự chủ động của người học trong việc tiếp cận thông tin, trau dồi kiến thức, kĩ năng, sự sáng tạo và học tập suốt đời. Đồng thời, cả đánh giá như hoạt động học tập và học tập tự định hướng đều xác định vai trò của người dạy là hỗ trợ, phản hồi. Đánh giá như hoạt động học tập cũng được thể hiện trong quá trình học tập tự định hướng khi người học tự kiểm soát việc học tập, tự điều chỉnh, phát triển nhận thức và tư duy của bản thân và thông qua đánh giá, người dạy và bạn học có thể hỗ trợ người học học tập tự định hướng. Từ các kết quả nghiên cứu đã gợi mở một số đề xuất để thúc đẩy đánh giá như hoạt động học tập và học tập tự định hướng trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam. Thông qua đó sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và phát triển phương pháp dạy học và đánh giá phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của người học.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,354
Bài viết đề cập đến vấn đề đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông môn Ngữ văn. Trong bài, tác giả trình bày một số biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Các biện pháp đó là: 1/ Chuẩn bị các điều kiện dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình theo hướng dẫn nhập cảm xúc cho giáo viên và học sinh; 2/ Thiết kế quy trình tổ chức hoạt động dạy học phù hợp để khơi gợi, nuôi dưỡng và phát triển tình cảm thẩm mĩ cho học sinh khi đọc thơ trữ tình; 3/ Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phù hợp để phát triển tình cảm thẩm mĩ cho học sinh khi đọc thơ trữ tình; 4/ Sử dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra, đánh giá nhằm phát triển kĩ năng đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình. Mỗi biện pháp được đề xuất đều có một vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng và có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó logic, bổ sung, hỗ trợ, xuyên thấm trong nhau, cùng hướng tới mục đích chung là giúp giáo viên biết cách tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình, từ đó góp phần vào việc bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ và phát triển phẩm chất, nhân cách học sinh.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,486
Từ mô hình học tập trải nghiệm của John Deway, bài viết thiết kế chi tiết hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học nhằm phát huy thế mạnh, tạo sự hứng thú của học sinh tham gia hoạt động giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường tiểu học.