Danh sách bài viết

Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,218
Nói lắp tồn tại như một “tảng băng” trong một cá nhân, mà “phần nổi” chỉ biểu hiện ở sự lặp lại, kéo dài hay tắc nghẽn khi phát âm, còn “phần chìm” là phần khó nhận diện nhưng lại chiếm phần lớn và đóng vai trò rất quan trọng. Làm thế nào để khắc phục khó khăn này ở cả ‘phần nổi’ lẫn “phần chìm” là điều mà các nhà nghiên cứu và các nhà can thiệp/ trị liệu đang quan tâm. Có nhiều biện pháp áp dụng trong can thiệp cho trẻ nói lắp, trong đó cần kể đến một trong các biện pháp tác động tới hành vi, tâm lí của trẻ đó là sử dụng âm nhạc. Bài viết giới thiệu biện pháp sử dụng âm nhạc trong trị liệu cho trẻ nói lắp và trình bày một số kết quả thực chứng về tác động của biện pháp này trong can thiệp nói lắp cho một trẻ nhỏ.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,344
Tăng động giảm chú ý được biết đến là một rối loạn có liên quan đến những khó khăn về mặt hành vi, đây được xem là những hạn chế cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học hòa nhập của các em. Bài viết tiến hành lấy ý kiến của 144 giáo viên dạy tiểu học hòa nhập và 140 cha mẹ học sinh tăng động giảm chú ý nhằm khảo sát thực trạng việc giáo dục hành vi cho học sinh tăng động giảm chú ý. Kết quả thu được như sau: Phần lớn các giáo viên và cha mẹ đã nhận thức và thực hiện được một số nội dung giáo dục hành vi cơ bản, trong đó đẩy mạnh việc giáo dục kĩ năng học tập. Đa số giáo viên và cha mẹ đã bước đầu thực hiện các phương pháp giáo dục và đạt một số hiệu quả nhất định; các giáo viên đã lựa chọn, sử dụng các hình biện pháp, hình thức giáo dục phù hợp và mang lại những kết quả khả quan trong quá trình giáo dục. Các giáo viên và cha mẹ đã tiến hành sử dụng nhiều phương tiện đa dạng, kết hợp linh hoạt trong quá trình giáo dục. Bài viết cũng đưa ra một số bàn luận và gợi ý các biện pháp giáo dục nhằm đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, nghiên cứu còn tồn tại một số điểm hạn chế về số lượng khách thể, quá trình khảo sát, xử lí số liệu gặp nhiều khó khăn, đây là những gợi ý quan trọng để chúng tôi tiến hành trong những nghiên cứu tiếp theo.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,157
Rối loạn phổ tự kỉ là một dạng rối loạn phát triển phức tạp, được đặc trưng bởi: 1/ Những suy giảm trong giao tiếp xã hội và tương tác xã hội; 2/ Các hành vi, sở thích thu hẹp, lặp lại. Trẻ rối loạn phổ tự kỉ thường được chẩn đoán kèm theo các rối loạn phát triển, thần kinh, tâm thần hoặc các chẩn đoán về y tế khác. Có khoảng 40% các trường hợp trẻ rối loạn phổ tự kỉ được chẩn đoán mắc ít nhất một chứng rối loạn lo âu. Đây là một trong những rối loạn tâm thần thường hay có nhất và gây nhiều khó khăn ở trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Rối loạn lo âu cùng xảy ra có thể gây ra đau khổ cấp tính, khuếch đại các triệu chứng cốt lõi của trẻ rối loạn phổ tự kỉ và gây ra những khó khăn về hành vi bao gồm giận dữ, gây hấn, tự gây thương tích. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu lí luận các nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu, các yếu tố môi trường vật chất và tâm lí ảnh hưởng, làm khởi phát và duy trì vấn đề rối loạn lo âu ở trẻ, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế tác động của các yếu tố môi trường, giúp trẻ rối loạn phổ tự kỉ quản lí lo âu tốt hơn.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,079
Bài viết trình bày những phát hiện chính trong khảo sát thực trạng giáo dục người Điếc tỉnh Nam Định, bao gồm: cơ cấu, tỉ lệ người Điếc; tình trạng sinh sống; tình trạng giáo dục và hỗ trợ, tình trạng can thiệp, đặc điểm của người Điếc trưởng thành, các nhu cầu hỗ trợ và hiểu biết về chính sách dành cho NKT. Kết quả khảo sát là cơ sở quan trọng để đưa ra các đề xuất với chính quyền, ngành Giáo dục, các tổ chức dân sự nhằm cải thiện chất lượng giáo dục, chất lượng sống cho người Điếc ở Nam Định nói riêng và cộng đồng người Điếc ở Việt Nam nói chung.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,076
Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông làm thay đổi các hình thức học tập, bao gồm cả các hoạt động liên quan đến kiểm tra, đánh giá trực tuyến. Bài báo áp dụng phương pháp trắc lượng thư mục khoa học đối với bộ dữ liệu chứa 953 tài liệu liên quan đến chỉ đề kiểm tra, đánh giá trực tuyến. Bộ dữ liệu này được thu thập từ cơ sở dữ liệu Scopus, trong đó tài liệu được công bố trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2021. Kết quả phân tích cho thấy, xu hướng nghiên cứu ngày càng tăng ở chủ đề này. Hoa Kì là quốc gia chiếm ưu thế ở lĩnh vực này. Ngược lại, đóng góp của Việt Nam chỉ là một tài liệu. Trong cả giai đoạn 1989 - 2021, năm nội dung chính được xác định, trong đó nội dung “phát triển công nghệ hỗ trợ học tập và thi cử” là chủ đề quan trọng nhất. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát, “trải nghiệm thi trên môi trường trực tuyến” là nội dung nổi bật nhất. Dựa vào xu hướng nghiên cứu và các nội dung nghiên cứu chính theo các giai đoạn, bài báo đề xuất một số định hướng nghiên cứu phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,203
Bài viết làm rõ những vấn đề lí luận cơ bản về quản lí hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, bao gồm: những khái niệm có liên quan và nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ 3 - 4 tuổi và công tác quản lí, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động này trong bối cảnh hiện nay
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,407
Giáo dục đại học theo mô hình phương Tây ở Việt Nam đã được hình thành từ đầu Thế kỉ XX. Tuy nhiên, có thể xem nền giáo dục đại học hiện đại của nước ta bắt đầu từ khi thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945 và phát triển qua nhiều giai đoạn theo các biến động lịch sử quốc gia: Từ năm 1945 đến khi chấm dứt cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954); Từ khi đất nước bị chia làm 2 miền đến khi thống nhất (1954 - 1975); Từ khi thống nhất đất nước năm 1975 đến nay. Ở đầu Thế kỉ XXI, các mô hình giáo dục đại học phương Tây có ảnh hưởng đến nước ta đều hội tụ đến giáo dục đại học Hoa Kì, cho nên mô hình giáo dục đại học mà Việt Nam hướng đến trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay cũng chính là mô hình giáo dục đại học Hoa Kì. Các đổi mới giáo dục đại học ở nước ta trong gần 3 thập niên qua đã thực hiện theo hướng đó nhưng còn gặp một số gay cấn. Muốn xây dựng một nền giáo dục đại học hiện đại, tiên tiến, cần đổi mới thể chế và hệ thống quản trị và quản lí giáo dục đại học nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,026
Chi bộ có vị trí, vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Do vậy, hoạt động của chi bộ mà chủ yếu thông qua sinh hoạt chi bộ chính là nhằm thống nhất tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn Đảng để thực hiện mục tiêu của Đảng, gây dựng và giữ vững niềm tin trong đảng viên. Trong đó, chi bộ trong các trường đại học, cao đẳng giữ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Để nâng cao năng lực lãnh đạo của các chi bộ trong trường đại học, cao đẳng trong tình hình mới hiện nay thì yêu cầu cấp thiết và đầu tiên là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Chi bộ trong các trường đại học, cao đẳng có những đặc điểm riêng biệt. Bởi vậy, vấn đề đặt ra đối với chi bộ trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay là ngoài việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ thường kì thì cần đặc biệt quan tâm đến sinh hoạt chi bộ theo các chuyên đề phù hợp với đặc điểm riêng của mình để chi bộ kịp thời bám sát, lãnh đạo, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong tình hình mới hiện nay
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,021
Rối loạn phổ tự kỉ là một dạng khuyết tật phát triển được đặc trưng bởi những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp và những hành vi định hình lặp lại. Trong các khó khăn đó thì khó khăn về ngôn ngữ có ảnh hưởng đến giao tiếp, học tập, hành vi và hoà nhập xã hội của trẻ. Có nhiều phương pháp, biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong đó tổ chức trò chơi tại các lớp mẫu giáo giúp trẻ hình thành và phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả. Tuy nhiên, khi tổ chức trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ, giáo viên cần điều chỉnh cách tổ chức hướng dẫn như là thay đổi nội dung, cách thức, hình thức, phương tiện sử dụng.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,048
Trước hết, xã hội học tập bao gồm hệ thống giáo dục suốt đời cung cấp cơ hội cho người dân có thể học tập mọi nơi, mọi thời điểm trong suốt cuộc đời để mở rộng, củng cố và cập nhật, phát triển năng lực (kiến thức, kĩ năng, thái độ) theo nhu/yêu cầu. Tuy nhiên, có thể tận dụng hữu ích các cơ hội học tập này còn đòi hỏi có chính sách/quy định tạo động lực học tập suốt đời cho người dân. Hơn nữa, để học tập suốt đời, người dân/học cần có năng lực tự học được hình thành và phát triển trong quá trình học tập tại cơ sở giáo dục cũng như quá trình tự trải nghiệm của bản thân trong thực tiễn. Tiếp theo, để có thể học tập mọi nơi, mọi lúc còn đòi hỏi cần phát triển môi trường giáo dục/ học tập suốt đời tích cực và cộng đồng học tập. Cuối cùng, quy trình rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách/quy định phát triển xã hội học tập đã được đề xuất.