[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Hà Nội.
[2] Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW về Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Hà Nội.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Thông tư số 17/2021/TT BGDĐT quy định về Chuẩn chương trình đào tạo, xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Hà Nội.
[4] Dean Dudley, Anthony Okely & Philip Pearson. (2011). A systematic review of the effectiveness of physical education and school sport interventions. British Journal of Sports Medicine, 45(3), pp.215-220.
[5] Endris Yimer. (2014). Attitude of students towards physical education in secondary schools in Addis Ababa. International Journal of Physical Education, Sports and Health, 1(1), pp.34-37.
[6] Irina Kalina. (2019). Improving physical education and sports activities in educational institutions. Journal of Physical Education and Sport, 19(4), pp.2050-2055.
[7] Nguyễn Đức Hậu. (2018). Quản lí hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
[8] Nguyễn Văn Bính. (2017). Quản lí hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở các trường trung học phổ thông huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
[9] Nguyễn Thị Thư. (2018). Cải tiến chương trình Giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Đại học Quốc gia Hà Nội.
[10] Nguyễn Ngọc Minh & Nguyễn Văn Sơn. (2025). Nghiên cứu thực trạng quản lí dạy học Giáo dục thể chất theo tiếp cận năng lực tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Tạp chí Khoa học Giáo dục thể chất và Thể thao trường học, 1, tr.66-72.
[11] Quốc hội (2019). Luật Giáo dục. Hà Nội.

